Các số Fibonacci và các dãy số lũy thừa
(Hình minh họa: Hoa camomilla. Số vòng quay màu nhạt về phía trái là 13, số vòng quay đậm hơn về phía phải là 21, và đây là hai số Fibonacci)
Đề tài của bài giảng lần này cho Mirella là các dãy số tăng nhanh kiểu lũy thừa. Ví dụ cụ thể là dãy số Fibonacci. Mirella đã từng nghe nói đến dãy số thú vị này rồi. Nó bắt đầu như sau:
1, 1, 2, 3, 5, 8, 13, 21, 34, 55, 89, …
Một người kể cả chưa nghe nói đến các số Fibonacci bao giờ, nhìn vào dãy số trên chắc cũng đoán được qui luật đơn giản sau: mỗi số bằng tổng của hai số kế tiếp nó. Nói theo kiểu toán học, thì tức là ta có công thứ hồi qui
trong đó là số Fibonacci thứ n, với hai số ban đầu là
và
Thay vì lấy 1 và 1 là hai số ban đầu, ta cũng có thể lấy 0 và 1 là hai số ban đầu, tức là chẳng qua là ta thêm . Điều này không làm thay đổi qui luật của dãy Fibonacci, mà chỉ thay đổi qui ước là dãy số bắt đầu từ số “thứ không” thay vì số “thứ nhất”:
Trong bài giảng này, Mirella sẽ tìm hiểu cùng papa một số tính chất của dãy số Fibonacci, và tìm ra công thức tổng quát để tính số Fibonacci thứ n như là một hàm theo n (bằng một hàm số có thể tính trực tiếp cho nhanh, chứ không phải tính theo kiểu hồi qui như trên sẽ rất lâu khi n lớn. Ví dụ, cần tính
mà không phải làm đến cả nghìn phép tính.
Một chút lịch sử và giai thoại
Fibonacci (quãng 1170-1250) là một nhà toán học ở thành phố Pisa (Italia), có viết một quyển sách về số học tên là Liber Abaci (nghĩa tiếng Việt: quyển sách về các phép tính), trong đó ông có đưa ra một mô hình sinh sôi nảy nở của số con thỏ như sau:
Các đôi thỏ cứ được 2 tháng tuổi trở lên thì mỗi tháng đẻ thêm 1 đôi thỏ. Ban đầu chỉ có 1 đôi thỏ nhỏ. Đến tháng thứ 2 vẫn chỉ có 1 đôi đó. Đến tháng thứ 3 thì đôi thỏ đẻ được thêm 1 đôi thành tổng cộng 2 đôi. Đến tháng thứ tư thì đôi đầu tiên đẻ được còn đôi thứ hai chưa đẻ được, nên có thêm 1 đôi thành tổng cộng 3 đôi. Đến tháng thứ năm thì có 2 đôi đẻ được, thành tổng cộng 5 đôi. Đến tháng thứ 6 thì có 3 đôi đẻ được, thành tổng cộng 8 đôi. Và cứ thế …
Tất nhiên, mô hình trên đơn giản đến mức ngây ngô, nhưng nó ứng với một thực tế “đẻ nhanh như thỏ”, và cho ra một dãy số thú vị, mà ngày nay người ta gọi là dãy số Fibonacci, hay còn gọi là dãy số con thỏ. Thực ra, trong lịch sử, Fibonacci không phải là người đầu tiên nghĩ ra dãy số thú vị này, mà nó đã xuất hiện từ trước đó rất lâu, ví dụ như ở Ấn Độ từ trước công nguyên.
Người ta quan sát thấy rằng, dãy số Fibonacci và các dãy số tương tự xuất hiện rất nhiều trong tự nhiên. Chẳng hạn như khi nhìn vào các bông hoa có nhiều tầng cánh, hay là quả thông có nhiều múi nhỏ, người ta cũng nhận thấy các tầng cánh hay múi cũng tuân theo qui luật kiểu Fibonacci. Hay là độ dài các mức của một đường xoắn ốc ở vỏ con ốc cũng vậy. Thậm chí, người ta còn cho rằng các dãy số Fibonacci là rất quan trọng trong buôn bán chứng khoán, và có cả các chương trình đầu cơ chứng khoán dựa trên các số này, kiểu “lên 8 xuống 5″ !
Tính chất lũy thừa của dãy Fibonacci
Trước khi tìm công thức chính xác cho số Fibonacci , chúng ta để ý rằng đây là dãy số tăng, và từ đó ta có bất đẳng thức
Theo qui nạp, dễ dàng suy ra bất đẳng thức sau:
(với mọi số tự nhiên n)
Điều đó có nghĩa là dãy số Fibonacci tăng tương tự như là kiểu lũy thừa “A lũy thừa bậc n”, với
(nó tăng nhanh hơn dãy kiểu
và chậm hơn dãy kiểu
)
Vì dãy tăng kiểu lũy thừa, nên câu hỏi sau đây nảy sinh một cách tự nhiên: có thực sự là tồn tại một số A nằm giữa
và 2, sao cho dãy
tăng như kiểu
?
Ở đây, tạm hiểu “ tăng như kiểu
” theo nghĩa là tỷ lệ
càng ngày càng tiến gần đến một hằng số dương C nào đó, tức là
khi n rất lớn
Như vậy, nếu n là số rất lớn, thì ta có
Bởi vậy, chia đẳng thức cho
, ta được một đẳng thức xấp xỉ sau
Khi n càng lớn thì đẳng thức xấp xỉ trên càng chính xác. Nhưng vì đẳng thức này thực ra không hề phụ thuộc vào n, nên nó phải là đẳng thức chính xác, tức là ta có:
Kết luận tạm thời: nếu tăng kiểu
, thì A phải là nghiệm của phương trình bậc 2 trên.
Phương trình đặc trưng
Phương trình phía trên để tìm số A sao cho
tăng theo kiểu lỹ thừa của A gọi là phương trình đặc trưng của dãy số Fibonacci.
Bài tập cho ai tò mò: Nếu có dãy “Fibonacci phẩy” không tuân theo nguyên tắc , mà là theo nguyên tắc
, và ta làm tương tự như trên thì được phương trình đặc trưng của nó là phương trình nào ? Còn nếu
(với chẳng hạn
) thì sẽ có phương trình đặc trưng ra sao ?
Để tìm A, ta phải giải phương trình đặc trưng. Cũng may là Mirella đã được học cách giải phương trình bậc 2, và vẫn nhớ là giải thế nào: Viết phương trình dưới dạng
, với
Biến đổi phương trình thành
rồi lấy căn bậc hai, ta được
, từ đó suy ra là phương trình có hai nghiệm
Trong trường hợp của ta, hai nghiệm là
Vì A là số dương, trong khi nghiệm là số âm, nên ta phải có $A = A_+ = (1 + \sqrt{5})/2.$ Như vậy ta đã tính được ra số A. Nhunwng ngoài ra còn tìm được thêm một số
. Số $A_-$ này có công dụng gì trong việc tìm công thức tổng quát của số Fibonacci
không ? Câu trả lời là có.
Công thức của
Một điều thú vị là, nếu ta đặt và
, thì cả hai dãy số
và $c_n$ đều thỏa mãn phương trình của Fibonacci, tức là
và
Nếu chẳng hạn bây giờ có hai số B và C sao cho
(*)
và
(**)
thì vì là đều thỏa mãn phương trình Fibonacci, nên theo qui nạp ta cũng sẽ có
với mọi n. Bởi vậy công thức tổng quát cho dãy số Fibonacci chính là
với B và C là hai số thỏa mãn hai phương trình (*) và (**)
Phương trình (*) chính là: B+C = 0, tức là C= -B. Thay đẳng thức này và phương trình (**), ta được:
, có nghĩa là
Kết luận: công thức của số Fibonacci là:
Tất nhiên, một hệ quả của công thức trên là, khi $n$ tiến tới vô cùng, thì dãy tăng như kiểu
(vì phần
sẽ có trị tuyệt đối nhỏ hơn nhiều so với phần
khi n lớn).
Hình minh họa: các ô vuông có cạnh là các số Fibonacci được xếp liền nhau theo một hình xoắn ốc:
Câu hỏi “triết lý”
Thế tại sao các dãy kiểu Fibonacci lại xuất hiện nhiều trong thực tế thế. Tạm trả lời: vì chúng cho bởi công thức nội suy đơn giản, chỉ là bậc 2. Rất nhiều cái phức tạp trong tự nhiên là tao bởi các “mầm sinh”, “nguyên tắc sinh” đơn giản như vậy. Trong tự nhiên, các phương trình càng bậc thấp thì càng gặp nhiều, càng bậc cao thì càng ít gặp.
Bài tập
Tìm công thức tương tự như trên cho các số của dãy số “Fibonacci phẩy” sau:
với mọi n.


Feed Back