Thư ngỏ Hà Nội 2012 … Tuyên ngôn Caravelle 1960

 

Bài nhận định thú vị này là của VOA, 10/08/2012, so sánh bức thư ngỏ của 71 người gửi lãnh đạo VN vừa qua với tuyên ngôn Caravelle của 18 nhân sĩ lớn trong Nam vào năm 1960 về chế độ Ngộ Đình Diệm. Đây là một chi tiết lịch sử quan trọng mà bây giờ tôi mới được biết. Trong số 18 người ký tuyên ngôn Caravelle, có rất nhiều người từng giữ ghế bộ trưởng trong chính phủ. Cả 18 người sau đó có bị bắt. Theo nhận định của VOA, tuyên ngôn Caravelle là một biến cố chính trị lớn, còn bức thư ngỏ không có được tầm cỡ như vậy, nhưng cũng gây tiếng vang chính trị.

Có một điều là, tuy thư ngỏ gửi đến các cơ quan của Đảng và Chính phủ Việt Nam cũng như các báo chí trong nước, không hề có một báo nào mảy may nhắc đến sự tồn tại của nó. Như kiểu một “con voi trong phòng” ai cũng cố tình tránh đi không nhìn vào nó. Tuy nhiên các bạn bè tôi ở VN (nhưng người không hề tham gia hoạt động chính trị) có đọc tin tức “lề trái” và biết đến nó.

Nguồn viet-studies: http://www.viet-studies.info/kinhte/ThuNgoHaNoi_VOA.htm

(Xem nội dung bức thư ngỏ phía dưới. Tôi có ký tên vào là thư đó, đồng ý với những nhận định chính trong đó về sự cần thiết phải cải tổ toàn diện đất nước, tuy rằng tôi không được lạc quan về khả năng cải tổ đó)

——

VOA 10-8-12

Thư ngỏ Hà Nội 2012… Tuyên ngôn Caravelle 1960

bởi Hà Vũ, Huy Phương

Hôm 6 tháng 8, một nhóm nhân sĩ, trí thức bên trong và bên ngoài Việt Nam đã gửi Thư Ngỏ cho đảng Cộng sản, nhận định về tình hình tranh chấp Biển Đông và đề xuất giải pháp cho cuộc tranh chấp, đi kèm với một số đề xuất khác. Lá thư này làm những người miền nam Việt Nam trên 50 tuổi nhớ đến Tuyên Ngôn Caravelle năm 1960. Hai nhà bình luận ở hai miền Hoa Kỳ có những nhận xét về sự so sánh này.

TỪ 42 ĐẾN 71

Lá Thư Ngỏ của 71 nhân sĩ, trí thức Việt Nam được đưa ra 10 ngày sau khi 42 công dân ở thành phố Hồ Chí Minh gửi văn bản đề nghị đảng Cộng sản Việt Nam để cho nhân dân Thành phố biểu tình chống những hành động gây hấn, khiêu khích và xâm lấn Biển Đông của nhà cầm quyền Trung Quốc hồi gần đây.

Văn bản của 42 công dân còn nói trong trường hợp lãnh đạo Thành phố không có chủ trương thì nhân dân Thành phố thực hiện quyền hiến định của mình sẽ tự đứng ra tổ chức cuộc biểu tình với mục đích vừa nêu.

Lá Thư Ngỏ của nhóm 71 người hoan nghênh và đánh giá cao Luật Biển vừa được Quốc hội Việt Nam thông qua. Nhóm này phản đối mạnh mẽ Trung Quốc đối với các đảo vốn thuộc chủ quyền Việt Nam và các quốc gia khác ven biển.

Lá Thư Ngỏ nói rằng đi đôi với việc tỏ rõ thái độ, Nhà nước cần khuyến khích và tạo điều kiện phát huy năng lực của các nhà nghiên cứu ở trong và ngoài nước. Lá thư nói rằng nhân dân Việt Nam rất quan tâm tới việc sửa đổi Hiến pháp, bảo đảm thực hiện các quyền hiến định về tự do, dân chủ, cần nhấn mạnh quyền tự do kinh doanh, quyền tự do ngôn luận và tự do báo chí, quyền được thông tin, quyền lập hội, quyền được tự do bày tỏ thái độ chính trị thông qua các cuộc biểu tình ôn hòa.

Lá thư đề xuất điều mà đảng Cộng sản Việt Nam có thể làm ngay để biểu thị quyết tâm cải cách chính trị hợp lòng dân, là chấm dứt các hành động trấn áp, quy kết tùy tiện đối với người dân biểu tình yêu nước; trả tự do cho những người bị giam giữ vì bất đồng chính kiến, chỉ công khai bày tỏ quan điểm chính trị của mình mà đã và đang bị kết án hình sự. Nhóm 71 người này mong các nhà lãnh đạo Việt Nam đặt lợi ích dân tộc lên trên hết, nỗ lực thực hiện trách nhiệm nặng nề trong tình thế hiểm nghèo, không phụ lòng mong đợi của nhân dân.

Và để tăng cường sức mạnh cho Thư Ngỏ, một trong những người ký tên trong lá thư và cũng ký trong văn bản 42 người đã cho phổ biến lời kêu gọi mà ông đặt tựa có một từ là “Đánh.

Tác giả Hồ Ngọc Nhuận-Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Phó Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Thành phố Hồ Chí Minh, nguyên Giám đốc chính trị nhật báo Tin Sáng-đặt câu hỏi đánh cách nào, khi bên kia có nanh nguyên tử và nhiều thứ khác, phe ta thì như tay không.

Ông Nhuận đưa đáp án: “Ai có gì đánh nấy. Có mấy thứ cũng có thể gọi là ĐÁNH: KHÔNG mua hàng Trung Quốc, KHÔNG bán hàng Trung Quốc, KHÔNG đi chơi Trung Quốc, KHÔNG xuất bất cứ thứ gì sang Trung Quốc, KHÔNG đến các phòng khám bệnh của Trung Quốc, KHÔNG qua lại làm ăn dưới bất cứ hình thức nào với Trung Quốc, KHÔNG lấy chồng Trung Quốc. Và còn nhiều cái KHÔNG khác nữa…”

Ông kết luận: “Biết NÓI KHÔNG VỚI Trung Quốc TỨC LÀ ĐÁNH rồi đó.”

TỪ 71 NHỚ VỀ 18

​​​​Lá thư của 71 nhân sĩ trí thức tháng 7 năm nay làm nhiều người lớn tuổi ở miền nam Việt Nam nhớ lại 18 nhân sĩ trí thức miền Nam tháng 4 năm 1960, họp tại khách sạn Caravelle ra tuyên ngôn chỉ trích quyết liệt các sai lầm của Tổng thống Ngô Đình Diệm về chính trị, hành chính, xã hội và quân sự, gây ra tình trạng bất mãn trong dân chúng, suy thoái của chế độ và làm giảm tiềm lực đấu tranh chống cộng.

Tuyên ngôn nói rằng dân chúng vẫn chưa tìm thấy được một cuộc sống khá hơn hay có nhiều tự do hơn, hiến pháp đã được lập ra nhưng chỉ có hình thức, Quốc hội tuy có đấy nhưng những cuộc thảo luận luôn luôn được diễn ra chỉ theo đường hướng của chính quyền, những cuộc bầu cử mang tính cách phản dân chủ, bắt chước các chế độ Cộng Sản độc tài.

Tuyên ngôn nói rằng những vụ bắt bớ liên tục tiếp diễn làm cho nhà giam và khám đường đầy đến tận nóc; dư luận quần chúng và báo chí phải câm lặng, ý dân bị khinh nhục và chà đạp trong những cuộc đầu phiếu.

Về mặt kinh tế và xã hội, tuyên ngôn của 18 người thuộc nhóm Caravelle nói rằng nhiều người không có việc để làm, không có nhà để ở và không có tiền bạc. Gạo nhiều nhưng bán không được, các tiệm đầy hàng mà hàng hóa lại không di chuyển, nguồn lợi nằm trong tay những kẻ đầu cơ, dùng phe nhóm, đoàn thể của chính quyền để che dấu việc buôn bán độc quyền đem lợi về cho một thiểu số tư nhân.

Hơn 3 năm sau khi có Tuyên ngôn Caravelle, chế độ Ngô Đình Diệm sụp đổ.

THỬ SO SÁNH

Từ California, nhà bình luận thời cuộc Trần Bình Nam, cựu Dân biểu chế độ Việt Nam Cộng Hòa nhận định rằng hai bản “Tuyên Ngôn” và “Thư Ngỏ” đều có tính cách chính trị, vì trọng tâm đều có mục đích lành mạnh hóa chính quyền để tập hợp sức mạnh của nhân dân chống xâm lăng, một bên là cuộc xâm lăng của Hà Nội sau Hiệp Định Geneve, một bên là chống sự xâm lấn của Trung quốc.

“Nhưng xét về khung cảnh chính trị và tầm vóc của những vị ký tên cũng như nội dung tôi thấy giá trị của hai văn bản nặng nhẹ khác nhau.

Tuyên Ngôn năm 1960 gởi Tổng thống Ngô Đình Diệm do 18 nhân vật có tầm vóc và uy tín to lớn trong xã hội lúc đó. 11 trong 18 nhân vật ký tên từng giữ các chức vụ bộ trưởng. 4 vị từng giữ những chức vụ cao cấp khác trong chính quyền. Và Tuyên Ngôn đã xuất hiện như một biến cố chính trị nêu ra bản chất độc tài và chính sách trị dân sai lầm của chính phủ Ngô Đình Diệm và tính cách khẩn trương của sự tồn tại của miền Nam.

Tuyên Ngôn Caravelle được ký mấy ngày sau cuộc đảo chánh lật đổ tổng thống Lý Thừa Vãn tại Nam Hàn là một hàm ý rằng nếu không cải tổ thì chế độ cũng có thể bị lật đổ. Những người ký tên đã làm một hành động cực kỳ can đảm khi ký vào bản Tuyên Ngôn, biết tính mạng của họ và sự an toàn của gia đình có thể bị đe dọa. Và đúng như vậy, vào tháng 11 năm đó, sau một cuộc đảo chánh bất thành tất cả 18 nhân sĩ ký tên đều bị bắt, bị tù đày và có người bị truy tố ra tòa.

Trong khi đó, Thư Ngỏ của 71 nhân sĩ trí thức vừa ký nhắm mục đích nêu lên tính khẩn trương của tình hình xâm lấn của Trung quốc đối với vùng Đặc quyền Kinh tế của Việt Nam. Và trong bối cảnh đó đề ra yêu cầu công khai hóa quan hệ thật sự giữa hai nước, yêu cầu chính quyền phải có kế hoạch chống tham nhũng, và quan trọng nhất là đề nghị chính quyền huy động nội lực của toàn dân để chống xâm lăng. Nhưng Thư Ngỏ không có trọng lượng chính trị như Tuyên Ngôn 1960, vì đa số quý vị ký tên tuy đều là giới trí thức, chuyên viên, cựu cán bộ nhưng tầm vóc nhỏ ít có ảnh hưởng đến bộ máy cầm quyền. Thư Ngỏ có thể gây ra được một tiếng vang chính trị, nhưng không tạo thành một biến cố chính trị như Tuyên Ngôn Caravelle năm 1960.”

Tại vùng thủ đô Hoa Kỳ, khi được yêu cầu so sánh giữa Tuyên Ngôn 1960 và Thư Ngỏ 2012, cựu Đại sứ Việt Nam Cộng Hòa Bùi Diễm trả lời:

“Không thể so sánh được. Vấn đề ngày nay lớn quá. Hoàn cảnh đất nước nó khác. Lúc trước chỉ là một đôi điều không đồng ý với chính phủ của cụ Diệm mà thôi, chứ còn bây giờ là một vấn đề lớn lắm. Vấn đề có thể nói là có quan hệ đến sự tồn vong của dân tộc. Vì vậy cho nên hoàn cảnh lúc này nặng lắm và những người lên tiếng có lẽ cũng đã bắt đầu thức tỉnh khi nhìn thấy hiểm họa mỗi ngày một lớn.

Thư ngỏ của 71 nhà trí thức gởi ban lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam đòi hỏi nhiều hơn là chỉ biểu tình, đặt vấn đề một cách rõ rệt là yêu cầu thực hiện những quyền hiến định về tự do dân chủ, tự do kinh doanh, quyền lập hội, quyền tự do bày tỏ thái độ chính trị qua những cuộc biểu tình ôn hòa.

Đây có sự góp mặt của những người đã từng có liên hệ tới đảng Cộng sản tức là những người trong Mặt trận Tổ quốc, trong Hội Trí thức Yêu nước, đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh chẳng hạn. Thành thử ra người ta đặt vấn đề đây có phải là một hiện tượng mới, thể hiện sự công phẫn của những người trí thức Việt Nam, tuy trước đây có cộng tác hay có liên hệ đến đảng Cộng sản Việt Nam nay thấy trường hợp nguy hiểm quá nên bắt buộc phải lên tiếng.

Tôi nghĩ chúng ta cần phải chú ý để hiểu biết về tình hình nội bộ Việt Nam lúc này. Hiểm họa lớn lắm và sự công phẩn trong nước nổi bật hẳn lên, mặc dù đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục làm ngơ trước những chống đối đó.”

Nhà bình luận thời cuộc Trần Bình Nam kết luận:

“Nếu Tuyên Ngôn là một quả bom chính trị của thời điểm đó, thì Thư Ngỏ này là một tiếng pháo trước tình hình đất nước đang bị đe dọa và đáng được nhân dân Việt Nam trong và ngoài nước cùng quan tâm.”

Trong lúc Tuyên Ngôn Caravelle bị chính phủ Ngô Ðình Diệm bỏ ngoài tai, thì hôm thứ Năm, một trong những người ký Thư Ngỏ Hà Nội, Giáo sư Kinh tế Trần Hữu Dũng của Đại học Wright State, tiểu bang Ohio, Hoa Kỳ cho biết:

“Cho đến nay, tôi vẫn chưa nghe một phản hồi nào từ những địa chỉ mà Thư này gửi đến. Tôi không ngạc nhiên về sự im lặng này. Thật ra, tôi không có ảo vọng là bất cứ thư, kiến nghị, hay bản ý kiến nào gửi đến chính quyền hiện tại sẽ được trả lời.

Điều làm tôi ngạc nhiên, và khá thất vọng là cho đến nay, không có một tờ báo nào trong nuớc loan tin về Thư Ngỏ này, đừng nói chi đăng nguyên văn, mặc dù Thư cũng đã được gửi đến họ. Tôi không biết họ ‘tư kiểm duyệt’ hay được lệnh không đăng. Đó là một điều đáng buồn, thật đáng buồn!”

Tuyên Ngôn Caravelle năm 1960 có 1 linh mục, Thư Ngỏ năm 2012 có 1 giám mục và 2 linh mục.

Tuyên Ngôn Caravelle năm 1960 có 18 người trong nước Việt Nam ký tên cho dân số gần 20 triệu, Thư Ngỏ năm 2012 có 71 người trong và ngoài nước Việt Nam ký tên cho dân số trên 80 triệu

————-

THƯ NGỎ

Hà Nội, 6 tháng 8 năm 2012
Thư ngỏ
Kính gửi: Quốc hội, Chủ tịch nước và Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam,
Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương ĐCS Việt Nam,
Chúng tôi, những người đã tham gia ký và gửi tới lãnh đạo Nhà nước và Đảng
bản kiến nghị ngày 10-07-2011 về “Bảo vệ và phát triển đất nước trong tình hình
hiện nay” (dưới đây gọi tắt là kiến nghị 7-11) và bản ý kiến về “Cải cách toàn
diện để phát triển đất nước” ngày 08-09-2011 (gọi tắt là ý kiến 9-11), nay xin gửi
tiếp thư này tới Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ và Bộ Chính trị bổ sung ý
kiến trước tình hình mới.
1- Bản kiến nghị 7-11 và bản ý kiến 9-11 đều có chung nhận định: Trung Quốc
đã đi được những bước quan trọng trong việc thực hiện mưu đồ chiến lược bá
quyền của họ, nhằm làm cho Việt Nam suy yếu, chịu khuất phục hay lệ thuộc vào
Trung Quốc. Họ dùng nhiều thủ đoạn từ tinh vi đến trắng trợn để dụ dỗ, mua
chuộc, thâm nhập, lũng đoạn, uy hiếp, lấn chiếm không chỉ trên Biển Đông mà
còn trên nhiều địa bàn khác, không chỉ xâm phạm lãnh thổ, lãnh hải mà còn thâm
nhập và gây hại về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội; đồng thời tìm cách “chia để
trị” các nước ASEAN.
Đúng như dự đoán, hơn một năm qua, Trung Quốc thực hiện những bước mới
xâm phạm trắng trợn chủ quyền quốc gia, lãnh hải và vùng đặc quyền kinh tế của
nước ta cũng như các quốc gia giáp Biển Đông. Họ ngang nhiên lập đơn vị hành
chính có quân đồn trú ở nơi rất ít dân hòng cai quản vùng biển đảo rộng lớn
không phải của mình, mời thầu thăm dò và khai thác dầu khí trên vùng đặc quyền
kinh tế của Việt Nam, đưa tàu thuyền đánh cá cùng với tàu bán quân sự và quân
sự hoạt động trên vùng này, đồng thời bức hại ngư dân ta đang hành nghề trên
vùng biển thuộc chủ quyền và đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Nhiều khả năng
những hành động gây hấn của Trung Quốc sẽ còn tăng mức độ quyết liệt đi đôi
với việc chuẩn bị dư luận và điều kiện cho bước leo thang nguy hiểm hơn, kể cả
đe dọa gây chiến.
Chúng tôi hoan nghênh và đánh giá cao Luật Biển vừa được Quốc hội thông
qua, tạo căn cứ pháp lý cho nhà nước và nhân dân ta bảo vệ, quản lý, phát triển
kinh tế và hợp tác quốc tế đối với vùng biển thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền,
quyền tài phán của Việt Nam, phù hợp với luật pháp quốc tế. Sau một thời gian bị
kìm hãm, báo chí nước ta đã được cất tiếng nói phê phán thẳng thắn, mạnh mẽ và
kịp thời những chủ trương và hành động sai trái của Trung Quốc đối với nước ta.
1
Phản đối mạnh mẽ sự chiếm đoạt bằng vũ lực của Trung Quốc đối với các
đảo vốn thuộc chủ quyền Việt Nam và các quốc gia khác ven biển, chúng ta kiên
trì giải quyết tranh chấp với Trung Quốc bằng phương pháp hòa bình, tuân theo
luật pháp quốc tế. Chúng ta tôn trọng lợi ích chính đáng của các quốc gia khác
ven Biển Đông, cùng nhau thỏa thuận giải quyết những vướng mắc về chủ quyền
trên biển, đặc biệt là đối với các đảo, bãi đá cùng với lãnh hải bao quanh theo
đúng Công ước Liên hiệp quốc về Luật biển. Theo ý kiến đề xuất của các nhà
nghiên cứu ở một số nước, lúc này là thích hợp để các quốc gia ven biển Đông
thống nhất tên gọi Biển Đông Nam Á thay cho cách gọi khác nhau của từng nước
theo vị trí tiếp giáp biển. Đó là những giải pháp thiết thực để củng cố sự đoàn kết,
thống nhất của các nước ASEAN, trước hết là giữa các quốc gia ven biển, trong
cuộc đấu tranh chống mọi hành động bành trướng của Trung Quốc muốn biến
vùng biển này thành ao nhà của mình.
Chúng tôi mong Nhà nước công bố trước nhân dân ta và nhân dân thế giới
thực trạng quan hệ Việt – Trung; nêu rõ những căn cứ phù hợp với luật pháp quốc
tế, có sức thuyết phục về chủ quyền của Việt Nam đối với biển đảo ở vùng Biển
Đông để làm sáng tỏ chính nghĩa của nước ta; khẳng định thiện chí trước sau như
một của nước ta xây dựng, gìn giữ quan hệ hữu nghị, hợp tác láng giềng tốt với
Trung Quốc, nhưng quyết tâm bảo vệ độc lập, chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ
quốc gia của mình. Nhân dịp này, Nhà nước ta cần chủ động giải thích trước toàn
dân và dư luận thế giới bối cảnh ra đời, nội dung thực chất và giá trị pháp lý của
công hàm mà Thủ tướng Phạm Văn Đồng gửi Thủ tướng Chu Ân Lai năm 1958 về
Biển Đông, để bác bỏ dứt khoát mọi xuyên tạc từ phía Trung Quốc. Chúng ta luôn
phân biệt những hành động phi đạo lý và trái luật pháp quốc tế của một bộ phận
giới cầm quyền Trung Quốc, khác với quan hệ láng giềng thân thiện của đông đảo
nhân dân Trung Quốc đối với nhân dân Việt Nam.
Đi đôi với việc tỏ rõ thái độ như trên, Nhà nước cần khuyến khích và tạo điều
kiện phát huy năng lực của các nhà nghiên cứu ở trong và ngoài nước, kể cả các
nhà nghiên cứu quốc tế, trong việc sưu tầm, hệ thống hóa tư liệu lịch sử và pháp lý
về chủ quyền biển đảo của Việt Nam ở Biển Đông. Các cơ quan chức năng của Nhà
nước phối hợp với các nhà nghiên cứu hoàn chỉnh hồ sơ có đủ căn cứ lịch sử và cơ
sở pháp lý, công bố rộng rãi để nhân dân ta, nhân dân Trung Quốc và dư luận thế
giới hiểu rõ sự thật, không bị lừa mị hoặc rối trí bởi các luận điệu xuyên tạc, dối trá
xuất phát từ mưu đồ bành trướng.
Thực hiện tham vọng bá quyền và chính sách thực dân mới, nhà cầm quyền
Trung Quốc ỷ vào sức mạnh kinh tế và quân sự, tìm cách đánh lừa dư luận, lẩn
tránh luật pháp và công lý quốc tế, đang tự phơi bày bộ mặt thật, đồng thời lại
phải đối mặt với những vấn đề chính trị nóng bỏng trong nước, như các vấn đề về
dân chủ, nhân quyền, chủng tộc và mâu thuẫn trong các tầng lớp lãnh đạo, nên
thế cô lập về chính trị của họ trước thế giới càng sâu sắc thêm.
2
Việt Nam có chính nghĩa. Nhiều quốc gia trên thế giới mong đợi Việt Nam tự
lực, tự cường, thoát khỏi vòng kiềm tỏa, chi phối của Trung Quốc, cùng với các
nước trong khu vực và trên thế giới hợp thành sức mạnh ngăn chặn và làm thất
bại mọi mưu đồ bành trướng của Trung Quốc.
Trong bối cảnh này, chúng ta cần nỗ lực tranh thủ sự ủng hộ quốc tế, sáng suốt
lựa chọn các đối tác chiến lược vì lợi ích của dân tộc và phù hợp với xu thế phát triển
của thời đại.
2- Đi đôi với tăng cường quốc phòng, chuẩn bị đối phó với mọi tình huống có
thể xẩy ra, chúng ta cần phát huy thế mạnh cơ bản là ý chí độc lập, tự chủ được
hun đúc từ lòng yêu nước của nhân dân ta và sự ủng hộ quốc tế đối với nước ta.
Chúng tôi đã đề xuất mấy giải pháp chính là tiến hành cải cách sâu sắc, toàn
diện về chính trị, tạo điều kiện cho việc đẩy mạnh cải cách các lĩnh vực khác,
trước hết là cải cách kinh tế và giáo dục. Nội dung cải cách chính trị nhằm trước
hết đổi mới căn bản thể chế lãnh đạo và quản lý của bộ máy công quyền, bảo đảm
thực hiện các quyền tự do, dân chủ của dân đã được Hiến pháp quy định, nhằm
phát huy ý chí và năng lực của nhân dân, tăng cường đại đoàn kết dân tộc vì sự
nghiệp phát triển và bảo vệ đất nước, đẩy lùi quan liêu, tham nhũng và làm trong
sạch bộ máy công quyền.
Nhân dân ta rất quan tâm tới việc sửa đổi Hiến pháp để tạo cơ sở cải cách thể
chế chính trị, xây dựng nhà nước pháp quyền. Vừa qua, Ban Chấp hành Trung
ương Đảng đã thảo luận và có kết luận về sửa đổi Hiến pháp (và về Luật đất đai);
đề nghị Bộ Chính trị tuyên bố rõ là việc này không cản trở nhân dân và cán bộ,
đảng viên tiếp tục góp ý kiến về vấn đề hệ trọng này trước khi Quốc hội quyết
định.
Trong việc bảo đảm thực hiện các quyền hiến định về tự do, dân chủ, cần nhấn
mạnh quyền tự do kinh doanh, quyền tự do ngôn luận và tự do báo chí, quyền
được thông tin, quyền lập hội, quyền được tự do bày tỏ thái độ chính trị thông qua
các cuộc biểu tình ôn hòa. Việc nhân dân ta biểu tình phản đối hành vi xâm lược,
bành trướng của Trung Quốc góp phần hỗ trợ tích cực cho cuộc đấu tranh trên
mặt trận ngoại giao và động viên ý chí bảo vệ độc lập, chủ quyền của dân tộc.
Nhân dân đang đòi hỏi khẩn trương xây dựng luật bảo đảm thực hiện quyền biểu
tình của công dân đã ghi trong Hiến pháp. Chúng tôi cho rằng chính quyền nước
ta cùng với ý thức làm chủ của nhân dân ta hoàn toàn có đủ khả năng bảo đảm
các cuộc biểu tình phản đối hành động xâm lược, bành trướng của Trung Quốc
diễn ra ôn hòa, trật tự, đúng mục đích. Điều có thể làm ngay để biểu thị quyết tâm
cải cách chính trị hợp lòng dân là chấm dứt các hành động trấn áp, quy kết tùy
tiện đối với người dân biểu tình yêu nước; trả tự do cho những người bị giam giữ
vì bất đồng chính kiến, chỉ công khai bày tỏ quan điểm chính trị của mình mà đã
và đang bị kết án hình sự.
3
Bước tiến mạnh mẽ về thực hiện dân chủ, đẩy lùi quan liêu, tham nhũng là đòn
xeo xoay chuyển tình hình nước ta, đồng thời tăng ảnh hưởng tích cực trong quan
hệ quốc tế, tác động tới tình hình Trung Quốc, thúc đẩy mối quan hệ hợp tác bình
đẳng giữa Nhà nước và nhân dân hai nước, có lợi cho sự phát triển của mỗi nước
và cho sự nghiệp hòa bình, hợp tác ở khu vực và trên thế giới.
Dân tộc Việt Nam đang mong đợi chủ trương và hành động thiết thực của
Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ và Bộ Chính trị để đưa đất nước vượt qua
hiểm họa, phát triển mạnh mẽ và bền vững. Chúng tôi mong các nhà lãnh đạo đất
nước đặt lợi ích dân tộc lên trên hết, nỗ lực thực hiện trách nhiệm nặng nề trong
tình thế hiểm nghèo, không phụ lòng mong đợi của nhân dân./.
4
DANH SÁCH NHỮNG NGƯỜI KÝ TÊN
1. Nguyễn Quang A, TS, nguyên Viện trưởng Viện IDS, Hà Nội
2. Nguyễn Đình An, nguyên Phó Chủ tịch UBND Đà Nẵng, Đà Nẵng
3. Bùi Tiến An, cựu tù chính trị Côn Đảo, nguyên cán bộ Ban Dân vận Thành ủy Thành
phố Hồ Chí Minh, nguyên Chủ tịch Lực lượng Phụng sự Lao động (trước 1975), TP
HCM
4. Vũ Thành Tự Anh, TS, Giám đốc nghiên cứu Chương trình giảng dạy kinh tế
Fulbright, TP HCM
5. Trịnh Đình Ban, nguyên Phó Chủ tịch Hội Luật gia TP HCM, TP HCM
6. Hồ Tú Bảo, Giáo sư Tin học, Viện Khoa học và Công nghệ Tiên tiến Nhật Bản, Nhật
Bản.
7. Huỳnh Kim Báu, nguyên Tổng Thư ký Hội Trí thức Yêu nước Thành phố Hồ Chí
Minh, TP HCM
8. Thiện Cẩm, Linh mục, Ủy viên Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Phó Chủ
tịch Ủy ban Đoàn kết Công giáo Việt Nam Thành phố Hồ Chí Minh, TP HCM
9. Thái Văn Cầu, chuyên gia Khoa học Không gian, California, Hoa Kỳ
10. Nguyễn Huệ Chi, GS, nguyên Chủ tịch Hội đồng Khoa học Viện Văn học, Hà Nội
11. Đào Duy Chữ, TS, nguyên Phó Chủ tịch Phòng Thương mại Việt Nam, TP HCM
12. Tống Văn Công, nguyên Tổng Biên tập báo Lao Động, TP HCM
13. Hồ Ngọc Cứ, Luật gia, Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam,
nguyên Phó Chủ nhiệm Hội đồng Tư vấn Dân chủ và Pháp luật của Trung ương Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam, TP HCM
14. Nguyễn Xuân Diện, TS, Viện Hán Nôm, Hà Nội
15. Lê Đăng Doanh, TS, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng, nguyên
thành viên IDS
16. Hoàng Dũng, PGS TS, Đại học Sư phạm, TP HCM
17. Trần Hữu Dũng, Giáo sư Kinh tế học, Đại học Wright State, Hoa Kỳ
18. Nguyễn Tiến Dũng, Giáo sư Toán học, Đại học Toulouse, Pháp
19. Giáp Văn Dương, TS, nhà nghiên cứu Vật lý, Đại học Quốc gia Singapore
20. Lê Hiếu Đằng, nguyên Phó Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tại Thành
phố HCM, TP HCM
21. Nguyễn Đình Đầu, nhà nghiên cứu, TP HCM
22. Phan Hồng Giang, GS TS, nguyên Hiệu trưởng Trường Viết Văn, Hội Nhà Văn Việt
Nam, Hà Nội
23. Nguyễn Ngọc Giao, nhà báo, nguyên giảng viên Toán, Đại học Paris VII, Pháp
24. Lê Công Giàu, nguyên Phó Bí thư thường trực Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí
Minh Thành phố Hồ Chí Minh, TP HCM
25. Chu Hảo, nguyên Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ, nguyên thành viên Viện
IDS, Giám đốc Nhà xuất bản Tri thức, Hà Nội
26. Phạm Duy Hiển, GS TS, nguyên Viện trưởng Viện Nguyên tử Đà Lạt, nguyên thành
viên Viện IDS, Hà Nội
27. Nguyễn Thái Hợp, Giám mục Giáo phận Vinh
28. Nguyễn Thị Từ Huy, Tiến sĩ, TP HCM
29. Phạm Khiêm Ích, Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, nguyên
Phó Viện trưởng Viện Thông tin, Uỷ ban Khoa học Xã hội Việt Nam, Hà Nội
30. Nguyễn Vi Khải, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng, Phó Viện
trưởng Viện Mác-Lênin, Hà Nội
31. Nguyễn Văn Kích, nguyên Vụ trưởng, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ
tướng Chính phủ, Hà Nội
32. Tương Lai, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng, nguyên Viện trưởng
Viện Xã hội học, nguyên thành viên Viện IDS, TP HCM
33. Phạm Chi Lan, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng, nguyên Viện phó
Viện IDS, Hà Nội
34. Cao Lập, cựu tù Côn Đảo, TP HCM
35. Nguyễn Xuân Lập, nguyên Phó Chủ tịch Hội Y Dược Việt Nam, nguyên Trưởng
đoàn Sinh viên Phật tử Sài Gòn (trước 1975), TP HCM
36. Hồ Uy Liêm, PGS TS, Phó Chủ tịch thường trực Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ
thuật Việt Nam, Hà Nội
37. Trần Văn Long, nguyên Phó Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh Thành
phố Hồ Chí Minh, TP HCM
38. Ngô Vĩnh Long, Giáo sư Sử học, Đại học Maine, Hoa Kỳ
39. Huỳnh Tấn Mẫm, Bác sĩ, Đại biểu Quốc hội khóa 6, nguyên Chủ tịch Tổng hội Sinh
viên Sài Gòn trước 1975, TP HCM
40. Huỳnh Công Minh, Linh mục, Tổng Đại diện Tổng Giáo phận Sài Gòn, TP HCM
41. Trần Tố Nga, nhà giáo, Huân chương Bắc đẩu Bội tinh của Pháp, TP HCM
42. Nguyên Ngọc, nhà văn, nguyên thành viên Viện IDS, Hà Nội
43. Hạ Đình Nguyên, cựu tù chính trị Côn Đảo, nguyên Chủ tịch Ủy ban Hành động
thuộc Tổng hội Sinh viên Sài Gòn trước 1975, TP HCM
44. Phạm Đức Nguyên, PGS TS, giảng viên cao cấp, Đại học Xây dựng Hà Nội, Hà Nội
45. Trần Đức Nguyên, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng, nguyên thành
viên Viện IDS, Hà Nội
46. Hồ Ngọc Nhuận, Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Phó Chủ
tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Thành phố Hồ Chí Minh, nguyên Giám đốc chính trị
nhật báo Tin Sáng, TP HCM
47. Nguyễn Hữu Châu Phan, nhà nghiên cứu Huế học, Huế
48. Ngô Văn Phương, nguyên Ủy viên Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Thành phố
Hồ Chí Minh nhiệm kỳ 6, nguyên Đại biểu Hội đồng nhân dân Thành phố khóa 5, TP
HCM
49. Trần Việt Phương, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng, nguyên thành
viên Viện IDS, Hà Nội
50. Phạm Xuân Phương, Đại tá, cựu chiến binh, Hà Nội
51. Trần Hữu Tá, PGS TS, nguyên Chủ nhiệm khoa Ngữ văn trường Đại học Sư phạm
Thành phố Hồ Chí Minh, TP HCM
52. Lê Văn Tâm, Tiến sĩ Hóa học, Tokyo, Nhật Bản
53. Nguyễn Quốc Thái, nhà báo, TP HCM
54. Lê Mạnh Thát, Thiền sư, GS TS, TP HCM
55. Nguyễn Minh Thọ, Giáo sư Hóa học, Đại học Leuven, Bỉ
56. Trần Văn Thọ, Giáo sư Kinh tế học, Đại học Waseda, Nhật Bản
57. Cao Huy Thuần, Giáo sư danh dự (Chính trị học), Đại học Picardie, Pháp
58. Trần Quốc Thuận, Luật sư, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của Quốc hội,
TP HCM
59. Đào Công Tiến, PGSTS, nguyên Hiệu trưởng Đại học Kinh tế TP HCM
60. Phạm Toàn, nhà giáo, Hà Nội
61. Nguyễn Thị Ngọc Toản, Đại tá, GS Bác sĩ, cựu chiến binh, Viện Quân y 108, Hà Nội
62. Nguyễn Trung, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng, thành viên Viện
IDS, Hà Nội
63. Tô Văn Trường, Tiến sĩ, nguyên Viện trưởng Viện Quy hoạch Thuỷ lợi miền Nam,
TP HCM
64. Nguyễn Văn Tuấn, Giáo sư Y khoa, Đại học New South Wales, Úc
65. Hoàng Tụy, GS TS, nguyên Chủ tịch Hội đồng Viện IDS, Hà Nội
66. Võ Thị Bạch Tuyết, nguyên Giám đốc Sở Lao động, Thương binh, Xã hội Thành phố
Hồ Chí Minh, TP HCM
67. Hà Dương Tường, nguyên Giáo sư Toán học, Đại học Công nghệ Compiègne, Pháp
68. Nguyễn Viện, nhà văn, TP HCM
69. Vũ Quang Việt, chuyên gia tư vấn Thống kê Kinh tế cho Liên Hiệp Quốc, Myanmar,
Philippines và Lào; nguyên chuyên viên cao cấp Liên Hiệp Quốc, Hoa Kỳ
70. Nguyễn Trọng Vĩnh, Thiếu tướng, cựu chiến binh, Hà Nội
71. Phạm Xuân Yêm, nguy-ên Giám đốc nghiên cứu (Vật lý), Trung tâm Quốc gia
Nghiên cứu Khoa học (CNRS), nguyên Giáo sư Đại học Paris VI, Pháp

 

Print Friendly
 

3 comments to Thư ngỏ Hà Nội 2012 … Tuyên ngôn Caravelle 1960

  • Dũng Trần MonsterID Icon Dũng Trần

    Danh sách ký tên em thấy phần nhiều những tên quen thuộc, em vẫn thắc mắc cái tên Gs.Châu không thấy đâu cả???

  • luc MonsterID Icon luc

    Dzung Trần. GS.Châu còn trẻ, con đường còn dài, đừng thắc mắc việc của người khác.

  • Dũng Trần MonsterID Icon Dũng Trần

    Ý em là trước đây bác Châu cũng có nhiều ý kiến như Boxit Tây Nguyên, hay bác Cù Huy Hà Vũ…

Leave a Reply

  

  

  

You can use these HTML tags

<a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <strike> <strong>

Spam Protection by WP-SpamFree