Não và học (2): sợ hay là sướng ?

 

(Đây là bản nháp đầu, sẽ sửa chữa bổ sung sau khi kiểm tra thêm các tài liệu)

Các loài vật trên trái đất đều có bản năng sinh tồn, vì nếu không thì chúng đã bị tiêu diệt, chẳng còn để cho chúng ta nhìn thấy. Ở người và nhiều loài động vật khác, bản năng sinh tồn đó ở gắn liền với cơ chế hoạt động theo trạng thái cảm xúc (emotion) của não, với hai loại trạng thái cảm xúc cơ bản nhất, là sợ (fear) và sướng (pleasure). Ví dụ, sự xuất hiện của một “kẻ địch” hay một tiếng động lạ có thể dẫn đến trạng thái “sợ”, còn mùi vị của một món ăn hay một “bạn tình tiềm năng” có thể dẫn đến trạng thái “sướng”. Các cảm xúc “âm” như giận, lo, ghen tức, v.v. tạo ra trên nền trạng thái “sợ”: sợ bị hỏng việc, sợ điều tồi xẽ xảy ra, sợ bị tranh mất phần, v.v. Còn các cảm xúc “dương” như yêu thích, thỏa mãn, hưng phấn, v.v. là trên nền “sướng”.

Khi động vật rơi vào trạng thái “sợ” thì sẽ tìm cách trốn tránh hoặc đánh trả (flight/fight), còn khi “sướng” thì sẽ tìm cách đến gần tìm hiểu rõ hơn. Hai loại trạng thái cảm xúc này là tối cần thiết cho sự sống còn, vì muốn tồn tại thì phải được ăn, được phát triển nòi giống, không để bị kẻ khác ăn thịt, v.v. Dù con người là loài động vật có độ tiến hóa cao, nhưng hai loại trạng thái cảm xúc cơ bản “sợ” và “sướng” cũng vẫn chi phối mọi hoạt động khác. Nguyên lý cơ bản của sinh vật học về sợ và sướng có hệ quả rất quan trọng trong việc học, đó là:

Học trong trạng thái sướng thì dễ vào, còn học trong trạng thái sợ thì rất khó vào.

Con người bình thường không ai thích đau khổ, thích bị sỉ nhục. Bởi vậy, những thứ gây ra đau khổ, tủi nhục sẽ dẫn đến trạng thái cảm xúc “sợ”, cản trở việc học. Ví dụ như những việc đánh đập hay chế nhạo học sinh là phản giáo dục, vì tạo ra sự sợ hãi trong học sinh, gây ức chế không học được. Tôi có một người thân, khi đi học cấp 1 thuộc diện học sinh giỏi toán, nhưng từ khi học cấp 2 thì không còn thích môn toán. Hỏi ra được biết, hồi học cấp 2 có một ông thầy dạy toán nổi tiếng là dậy giỏi, nhưng cũng quá nghiêm khắc và hay thích chê bai bêu rếu những học sinh nào chưa kịp làm được bài hay làm thiếu bài về nhà. Ông thầy đó là người uyên bác, giảng kiến thức tốt, nhưng lại vô tình gieo vào đầu một số học sinh sự sợ hãi với mình, và với luôn môn học của mình.

Sự sợ hãi trong quá trình học làm cho người ta chán học, và không nhớ được những thứ mình học. Bởi vì, khi trong trạng thái sợ hãi, não hướng sự tập trung đến những bộ phận đối phó (để kháng cự hoặc trốn tránh), trong khi bộ phận ghi nhớ thông tin thì bị chặn không hoạt động được. Vì bản năng sinh tồn, não không muốn nhớ lại các cảm xúc “âm” như buồn tủi sợ hãi, và bởi vậy các thông tin nào dù có được ghi trong não mà gắn với các cảm xúc âm đó cũng bị não “vùi đi” không muốn lôi ra để khỏi gợi nhớ đến các cảm xúc âm đó. Hơn nữa, cũng vì bản năng sinh tồn, nếu não bị ở trong trạng thái sợ nhiều quá, thì nó sẽ khiến cơ thể tiết ra một số chất hóa học có tác dụng làm teo bớt bộ phận tạo trí nhớ lâu dài trong não, và dẫn đến hệ quả là kém về trí nhớ. Người ta đã làm thí nghiệm trên khỉ và quan sát thấy sự nhỏ lại của não ở các con khỉ bị ở trong trạng thái sợ hãi lâu dài [Cần tìm lại trích dẫn cho thí nghiệm này]

Để hiểu rõ cơ chế hoạt động dựa trên trạng thái cảm xúc của não, chúng ta cần tìm hiểu cấu trúc vật lý của não liên quan đến cơ chế đó. Theo các nhà thần kinh học, ở não có một bộ phận nhỏ , gọi là amygdal (hay amygdale, amygdala), chịu trách nhiệm về trạng thái “sợ” của não. Sở dĩ nó được gọi tên như vậy (trùng tên với một bộ phận nằm trong cổ họng mà một số người cắt đi khi bị viêm), bởi vì amygdal theo gốc Hy lạp có nghĩa là “quả hạnh nhân”, và amugdal trong não có hình gần giống như là quả hạnh nhân. Thực ra thì amygdal trong não gồm 2 “quả hạnh nhân”, nằm ở hai bên trái và phải của não, có chức năng gần giống nhau nhưng có phần khác nhau: một trong hai “quả hạnh nhân đó” chỉ chuyên về “sợ”, còn “quả” bên kia liên quan đến cả “sợ” và “sướng”.

(Hình: amygdal trong não. Phía đằng trước của não quay về phía bên phải của hình)

Amygdal có nhiệm vụ như là “lính canh gác” của não. Các tín hiệu mà não nhận được từ các giác quan (được ghi nhận và xử lý thô ở vùng võ não gọi là sensory and postsensory cortex, như đã giới thiệu trong Bai 1) được chuyển đến amygdal kiểm tra xem có tín hiệu nào báo có “nguy hiểm” hay “cơ hội” không. Nếu có tín hiệu mạnh báo “nguy hiểm”, thì amygdal sẽ đi vào trạng thái “sợ”.

Trạng thái “sợ” có thể đặc trưng bởi độ căng thẳng (stress) cao. Về mặt vật lý, khi độ căng thẳng lên cao, là khi cơ thể tiết ra  ở mức cao hai loại chất hóa học, gọi là epinephrine (hay còn được gọi là adrenalin) và cortisol. Epinephrine vừa là một chất hormone tiết ra từ vỏ thượng thận, vừa là một chất truyền tín hiệu thần kinh  (neurotransmitter), tức là một trong các chất hóa học mà tế bào thần kinh này “phóng” sang “râu” của tế bào thần kinh khác để báo cho tế bào thần kinh khác là có chuyện gì đó xảy ra hay cần phải làm gì đó. Chất epinephrine (chạy trong hệ thần kinh) có chức năng khiến cho các cơ chuyển động. Khi lượng epinephrine trong người tăng lên thì tim cũng đập nhanh lên và phổi cũng thở nhanh lên. (Một số bệnh như yếu tim, hen, v.v. có thể là do thiếu epinephrine trong người, và khi đó có cách chữa là uốn thêm chất này). Cortisol cũng là một hormone tiết ra từ vỏ thượng thận nhưng không phải là chất truyền tín hiệu thần kinh. Tác dụng của nó là làm tăng lượng đường trong máu (tạo năng lượng cho sự hoạt động của đầu óc và cơ bắp).

(Tranh vẽ hippocampus. Lấy từ trang web http://www.humanillnesses.com)

Theo bản năng sinh tồn, thì khi gặp nguy hiểm, lượng epiphrenine và cortisol tăng lên cao để cho có thể chạy thoát thân cho nhanh hoặc chiến đấu cho khỏe.  Khi não cần  ghi nhớ một điều gì đó ngắn hạn, thì cũng cần một lượng epiphrenine và cortisol vừa phải, (và tức là khi hơi căng thẳng một chút thì thuận lới cho việc nhớ ngắn hạn chứ trạng thái quá thư thái thì cũng không nhớ được gì), nhưng khi căng thẳng quá mức, có lượng cortisol quá lớn, thì thành có hại cho não. Cortisol là chất tồn tại lâu (vẫn còn trong máu kể cả khi đã hết “sợ”), và nếu cortisol trong máu quá cao thì làm tổn thương các tế bào của vùng hippocampus trong não, thậm chí làm cho các tế bào vùng đó bị chết đi. Hippocampus có nghĩa là “con cá ngựa”; nó được gọi như thế bởi vì vùng này của não trông hơi giống một con cá ngựa. Nó nằm ngay sát amygdal, và là bộ phận tạo thành các trí nhớ  cho não

Người ta phát hiện ra sự liên quan giữa hippocampus và khả năng tạo trí nhớ bắt đầy từ năm 1953, khi một thanh niên 27 tuổi mắc bệnh động kinh (epilepsy) được chữa bằng cách cắt hippocampus đi. Anh này sau đó khỏi động kinh, nhưng cũng không thể nhớ được thông tin gì mới quá vài phút (trừ loại thông tin gọi là “implicit” hay “procedural”, tức là các động tác chuyển động của cơ thể với mục đích gì đó) . Có bác sĩ tâm lý ngày nào cũng gặp anh ta những mỗi lần gặp lại phải giới thiệu lại mình là ai và vì sao gặp, tuy rằng những cái anh ta đã nhớ từ những năm trước đó thì vẫn còn nhớ.

Độ cortisol quá cao thì gây tác hại đến hippocampus và làm khả năng nhớ giảm sút. Đặc biệt đối với trẻ em, khả năng tiêu cortisol kém hơn người lớn, bởi vậy khi lượng cortisol trong trẻ em lên cao (do quá căng thẳng) thì điều này cũng có thể gây nên hậu quả tai hại hơn là ở người lớn. Trẻ em sống trong căng thẳng sợ hãi nhiều sẽ thành mất khả năng ghi nhớ các kiến thức.

Bởi vì amygdal liên quan đến trạng thái sợ, nên có lẽ người nào có amygdal càng to, thì càng nhạy cảm với các tín hiệu “sợ”, càng dễ sợ hãi, và ở mức cực đoan thì thành “paranoia”, luôn luôn sợ là có kẻ rình rập muốn làm  hại mình. Một nghiên cứu thú vị ở University College London vào năm 2010 cho thấy là những người theo phái “bảo thủ” (conservative) thì có amygdal trong não to hơn là những người theo phái “tự do” (liberal). Như vậy, con người bảo thủ hơn (thích cái cũ sợ cái mới) hay tự do hơn (thích khám phá cái mới) một phần là do cấu tạo vật lý của bộ não của người ta tạo ra vậy?

(Tranh: nicotine kích hoạt sự truyền tín hiệu thần kinh dopamine. Nguồn: http://www.cmaj.ca/content/177/11/1373/F1.expansion.html)

Nếu như amygdal được coi là “trung tâm sợ” của não, thì có một bộ phận khác của não đảm nhiệm chức năng “trung tâm sướng” (pleasure center), gọi là nucleus accumbens. Não của ai có bộ phận này to thì dễ “nhìn đời qua căp kính hồng”. Khi vùng này nhận được và phát đi nhiều tín hiệu thần kinh dopamine, thì tạo nên trạng thái khoan khoái sung sướng trong người. Tương tự như là epinephrine, dopamine cũng là một trong các chất hóa học có công dụng làm tín hiệu thần kinh giữa các tế bào thần kinh (neurons), và nó đảm nhiệm nhiều chức năng quan trọng, liên quan đến sự tập trung, trí nhớ, cử động cơ bắp, v.v.. Người mà thiếu dopamine có thể bị các bệnh như Parkinson’s, bệnh mất tập trung (ADHD), v.v. Ngoài cảm giác khoái lạc, dopamine tạo cảm giác thèm muốn, và tạo nên động lực để tìm cách thỏa mãn sự thèm muốn đó. Ví dụ như, một thí nghiệm trên chuột cho thấy, mức dopamine lên cao nhất ngay sát khi chuột được ăn một món ngon. Những con chuột có ít dopamine sẽ chấp nhận ăn món chán để trước mặt mà không thèm tìm món ăn ngon hơn để xa, trong khi con chuột có độ dopamine cao hơn sẽ chịu khó đi tìm món ngon hơn để ăn.

Một số ma túy như cocaine kích thích việc tiết ra dopamine trong não, và điều đó giải thích vì sao có nhiều người nghiện ma túy: lượng dopamine tăng lên tạo cảm giác sung sướng, nhưng ở mức quá cao, thì không còn biết đến sung sướng nữa, mà thay vào đó là thèm khát, muốn tiếp tục có được ma túy. Người nghiện ma túy thì bị dopamine làm cho thèm khát ma túy, và mất bản năng đạt sung sướng tự nhiên từ cuộc sống thật. Một số bệnh nghiện khác, như là nghiên hút thuốc lá (nicotine), cũng là do “tội” của dopamine được tạo ra và tác động đến nucleus accumbens khi hút thuốc, khiến người ta thấy thèm khát thuốc lá khi không có nó.

Tài liệu tham khảo cho bài này:

* Gluck et al., Learning and Memory: from brain to behavior, 2007 (các phần nói về dopamine)

* Zull, The Art of Changing the Brain: Biology of Learning, 2002 (Chương 5)

* Các trang wikipedia đã dẫn link phía trên

 

Print Friendly
 

10 comments to Não và học (2): sợ hay là sướng ?

  • hong van MonsterID Icon hong van

    “Cortisol là chất tồn tại lâu (vẫn còn trong máu kể cả khi đã hết “sợ”), và nếu cortisol trong máu quá cao thì làm tổn thương các tế bào của vùng hippocampus trong não, thậm chí làm cho các tế bào vùng đó bị chết đi.”

    Nho doc bai cua Zung nen (doan la) giai thich duoc hien tuong nhieu nha toan hoc noi danh trong lich su sau mot thoi gian lam viec cang thang qua khong the sang tao them duoc cai gi.

  • admin MonsterID Icon admin

    Làm được một “định lý để đời” rồi thì có chẳng may bị teo hippocampus đi cũng bõ nhỉ :D

  • Mèo MonsterID Icon Mèo

    Chắc những nhà toán học lớn là những người khi suy nghĩ thì cơ thể tạo ra dopamine :D .

  • bích phượng MonsterID Icon bích phượng

    @Admin:

    Giải thích thế nào về trường hợp này: người thích nổi tiếng, khi chưa được công nhận thì ấm ức lắm, làm việc quần quật, sau một thời gian cũng đạt được một vài kết quả (thậm chí khá tốt), nhưng khi được bàn dân thiên hạ biết đến rồi, hoàn toàn thỏa mãn về bản thân rồi, ngồi vào bàn thì lại cho ra đời toàn những thứ vớ vẩn.

    Hoặc trường hợp khác: một cô bạn tôi, giỏi giang, nghiêm túc, kết quả đều đặn; rồi bẵng đi 1 thời gian chẳng thấy làm được gì. Tôi hỏi thăm thì nó bảo là từ hồi lấy chồng (chú thích: chồng nó ga lăng và khá đẹp trai :-) ), nó “comblée” (hạnh phúc quá), đầu óc chẳng nghĩ được cái gì nữa! :-)

    Hay là chỉ nên “sướng” vừa vừa thôi thì làm việc mới có kết quả, chứ “sướng quá là hóa rồ” như các cụ vẫn nói?

  • admin MonsterID Icon admin

    bích phương đón xem Bài 3 nhé, sẽ thấy câu trả lời trong đó :D

  • admin MonsterID Icon admin

    Tôi chưa làm được cái gì để mà “nổi tiếng” cả nên không biết vì sao những người sau khi “nổi tiếng” thì bị “tịt” đi, nhưng có nghe các lý thuyết về việc đó.

    Một lý thuyết là, trong nhiều cái “tuyệt vời” có yếu tố may mắn xảy ra đúng thời điểm đó. Ví dụ như 1 cầu thủ có thể đạt thành tích suất xắc tại thời điểm nào đó, vượt hơn hẳn thành tích trung bình của bản thân anh ta, đến những lúc sau hết sự tập trung hội tụ của các yếu tố may mắn thì không thể lặp lại thành tích. Trong ngành gì cững có yếu tố may mắn cả, nên có nhiều người chỉ có 1 “tác phẩm để đời”. Những người mà “đẻ sòn sòn” các tác phẩm để đời, thì tất nhiên không còn là “ăn may” nữa, mà đã đạt trình độ đến mức “đào đâu cũng ra vàng”.

    Một lý thuyết khác, là về “độ sung sướng”. Khi làm ra được 1 tác phẩm tuyệt vời thì sung sướng tột độ và lâu dài. Vì muốn đạt được sự sung sướng đó nên người ta gắng sức để làm ra tác phẩm. Nhưng sau khi làm được 1 cái rồi, có làm được cái thứ 2 ngang bằng như vậy thì chỉ sung sướng thêm 1 chút thôi, chứ không phải là nhân đôi sung sướng. Do đó động lực “sung sướng” trong chuyện này bị giảm đi hẳn. Trong khi đó, người ta lại quay sự quan tâm sang những chuyện khác để “bù đắp thiếu thốn” tạo sung sướng nhiều hơn.

    Ví dụ như nhà toán học Grothendieck bỏ làm toán đi nuôi dê. Vì có làm thêm mấy bộ “hình đại số / hình giải tích” nữa thì cũng không sung sướng thêm, trong khi nuôi dê đem lại sự sung sướng mới mà lúc trước chưa có.

    Một lý thuyết khác nữa là, khi nổi tiếng, người ta bị “mắc bệnh vĩ nhân”, tức là luôn nghĩ mình thiên tài, làm gì cũng phải làm cái to tát xứng tầm của mình, không chịu làm cái “nhỏ, bẩn” nữa. Nhưng khoa học không hoạt động theo nguyên tắc như vậy, mà những cái “to” là tổng hợp từ “nhỏ” mà thành. Khi người ta còn chưa nổi tiếng, người ta không ngại xắn tay vào làm những công việc “nhỏ, bẩn”, nhưng chính những cái “nhỏ, bẩn” đó khiến người ta thành công.

  • bích phượng MonsterID Icon bích phượng

    “… Khi làm ra được 1 tác phẩm tuyệt vời thì sung sướng tột độ và lâu dài. Vì muốn đạt được sự sung sướng đó nên người ta gắng sức để làm ra tác phẩm. Nhưng sau khi làm được 1 cái rồi, có làm được cái thứ 2 ngang bằng như vậy thì chỉ sung sướng thêm 1 chút thôi, chứ không phải là nhân đôi sung sướng. Do đó động lực “sung sướng” trong chuyện này bị giảm đi hẳn… ” (Admin)

    Thế thì vẫn là làm thế nào để đừng “sướng quá hóa rồ” mà còn tiếp tục làm cái khác :-)

    Cụ Grothendieck thì không kể rồi, chỉ dám bàn đến người không thiên tài thôi. Ví dụ trẻ con, có lẽ cũng không nên khen nhiều quá.

    Thế còn người lớn? Ví dụ một đạo diễn điện ảnh. Nếu anh ta làm được phim hay thì vẫn phải khen. Và vì điện ảnh gắn liền với truyền thông nên sẽ có vô số lời khen. Trong một nền điện ảnh mà mỗi năm chỉ có dăm bộ phim thì vị đạo diễn kia có lẽ chục năm sau vẫn còn được khen. Và nếu không yêu nghề và thiếu tham vọng, thì sự nghiệp có nguy cơ sẽ dừng ở bộ phim kia (rất có thể là phim đầu tay).

    Nhưng sự việc có vẻ sẽ khác nếu đó là Hollywood nơi mà đạo diễn nào cũng phải ấp ủ một lúc vài bộ phim. Theo qui luật ngầm thì cứ 2 hoặc cùng lắm là 3 năm phải trình làng 1 bộ, nếu không sẽ bị khán giả “quên”. Đọc báo thì thấy, trong cùng 1 thời điểm có khi xuất hiện mấy phim “bom tấn”. Phim này hôm qua vừa phủ kín mặt báo thì hôm sau đã có phim khác thế chân. Đạo diễn này với phim này thì được khen nức nở, với phim khác lại bị lạnh như băng. Trong 1 môi trường như thế thì mới tạo được các đạo diễn có phim mục (filmographie) dài cả trang, ví dụ Woody Allen làm được hơn 30 phim (trong vòng gần 40 năm).

    Thế nên, có khi môi trường cũng quan trọng trong việc hình thành tài năng? Những người thiên tài thì không dám bàn, vì ở đâu họ cũng vẫn sẽ là thiên tài. Còn những người tài vừa vừa hoặc hơi tài, có lẽ cần phải có môi trường để họ không bị “sướng quá hóa rồ”, hay nói một cách văn hoa hơn là “ngủ quên trong chiến thắng” :-) ?

    Đương nhiên là so với khoa học xã hội và văn chương nghệ thuật thì khoa học tự nhiên ít bị ảnh hưởng của môi trường hơn. Giỏi toán, lý, hóa đến mấy cũng ít có người thành “sao”, chứ bên các ngành kia thì sao đầy trời :-)

  • admin MonsterID Icon admin

    Tất nhiên môi trường thích hợp khiến người ta phấn đấu là rất quan trọng. Thường người nào đang thỏa mãn vừa phải thôi mới phấn đấu tiếp, thỏa mãn quá thì hết phấn đấu. Tất nhiên nếu chỉ có bất mãn mà không có thỏa mãn thì cũng bỏ cuộc chẳng phấn đấu gì nữa.

    Ở đâu mà người ta mới “biết được nửa chữ” đã thấy mình “nhất thiên hạ” thì làm sao mà khá lên được nữa. Ai đến luc vỗ ngực “ta đây nhất thiên hạ” thì thưởng là sau đó đi xuống dốc, vì hết động lực làm cho tốt lên. Trẻ con mà khen vống nó quá, thì nó cũng tưởng nó nhất thiên hạ rồi, không còn gì để mà cố gắng.

    Nói về phương diện đất nước, VN đì đẹt khó tiến một phần vì lãnh đạo tự sướng nhiều quá. Chuyện có thật gần đây, một đồng chí chóp bu lãnh đạo khoa học VN mà chẳng biết là khoa học VN nằm ở đâu, nghĩ là “nền toán học VN đang đứng quãng thứ 15-20 thế giới” và hỏi dân toán đại loại “bao giờ thì lên thứ 10″. Tôi vốn tính thích đùa, khi nghe vậy mới nói lại là “chắc ý của đồng chí đó là đứng thứ 20 đếm từ dưới lên”.

  • bích phượng MonsterID Icon bích phượng

    Hy vọng là lâu dài môi trường VN sẽ dần dần cạnh tranh lên thôi. Có điều cũng nên chuẩn bị trước cho trẻ em.

    Tôi thấy giáo dục bên này, một mặt người ta cố để trẻ em được hưởng tuổi thơ thanh bình, nhưng mặt khác, cũng giúp trẻ em học cách sau này tự tìm lấy thăng bằng khi bắt buộc phải va chạm với cuộc sống. Ví dụ, người ta dạy trẻ em sống tự lập, yêu thiên nhiên, nghệ thuật, biết chia sẻ với người khác, thích lao động tay chân, chơi thể thao… Tóm lại là hành trang cho một cuộc sống tinh thần.

    Còn ở VN thì hình như có chiều hướng khác: cha mẹ Việt Nam sẵn sàng làm mọi thứ cho con cái, trong các gia đình chỉ cần trung lưu là ô-sin làm từ A đến Z. Lao động chân tay là vớ vẩn, không đẳng cấp, bắt buộc phải làm (vì không đủ tiền thuê người thì mới làm thôi). Còn thiên nhiên thì là thứ vô bổ (có tiền thì đi du lịch ngắm cảnh là cùng) và nghệ thuật là thứ phù phiếm (nếu cần thì đã có karaoke), thể thao thì lúc nào có tiền đi tập tennis (cho đẳng cấp) cũng không muộn…

    Hôm trước hàng xóm nhà tôi đi du lịch VN về bảo tôi là đất nước đẹp thế, món ăn thì ngon, chỉ ngại nhất là con người có vẻ bị đồng tiền ám ảnh, chênh lệch giàu nghèo ghê quá.

    Hôm nay tôi đọc ở báo mạng này thì thấy đại gia VN ăn chơi ngang tỷ phú thế giới. Rồi đọc sang báo mạng khác lại thấy xếp hạng VN ở mức báo động đỏ.

    Không biết các bác trong ngành giáo dục nghĩ thế nào về vấn đề này nhỉ? Có vẻ như báo chí cũng có đả động nhưng không thu hút được các nhà chuyên môn?

  • Cháu thấy loạt bài này của chú Dũng rất hay.

    Cháu biết blog của chú từ lâu, vào đọc bài thường xuyên nhưng hôm nay cháu mới để lại comment. Cái sự “sợ” và “sướng” này, về mặt khoa học, chú Dũng đã phân tích rất kỹ rồi. Cháu muốn phát triển thêm ở một ý khác. Nhẹ nhàng hơn. Nói chung cháu thấy như người Pháp vẫn nói, “tout excès est mauvais”. Hiểu trong bối cảnh này là, sướng quá thì cũng không ổn mà sợ quá thì lại cũng chẳng xong. Nhưng chỉ có “sướng” không thì sẽ dễ dẫn tới tình trạng “sướng quá hóa rồ” như cô Bích Phượng đã nói ở trên, tâm lý thỏa mãn thái quá khiến người ta chẳng còn muốn làm việc hay cống hiến gì nữa. Còn “sợ” quá thì sẽ làm cho não bộ bị căng thẳng, cản trở khả năng tư duy và sáng tạo. Thật ra sẽ hài hòa hơn nếu mỗi chúng ta tự tìm ra một tỉ lệ thích hợp để cân bằng hai cái sự “sướng” và “sợ” này, nhằm giúp trí não phát triển lành mạnh mà không bị mất đi động lực làm việc. Với cháu thì chắc là 7 phần “sướng” và 3 phần “sợ”. 7 phần “sướng” để nuôi dưỡng niềm đam mê dành cho những gì mình đang làm và 3 phần “sợ” để tạo ra áp lực vừa đủ nhằm không thỏa mãn với những gì mình đã làm được và tiếp tục giữ vững tinh thần chiến đấu. Hi hi.

Leave a Reply

  

  

  

You can use these HTML tags

<a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <strike> <strong>

Spam Protection by WP-SpamFree