Não và học (1): “động cơ 4 kỳ” của não

 

Thời gian vừa qua tôi có tham khảo khoảng 50 cuốn sách khác nhau về thần kinh học ứng dụng trong giáo dục, và thấy mình học được rất nhiều điều thú vị, và có ích cho bản thân. Tôi thấy có rất nhiều qui luật quan trọng về giáo dục, được chứng minh bởi các khám phá về thần kinh học, mà mọi người đều cần biết. Bởi vậy tôi muốn trình bày chúng lại đây, vừa là để có dịp đào sâu tìm hiểu thêm, vừa là nhằm mục đích phổ biến, hy vọng sẽ có ích cho tất cả những ai quan tâm về vấn đề dạy và học (không chỉ dạy trẻ con, mà cả dạy người lớn, dạy người bị tật, và dạy bản thân nữa !) Nếu được nhiều người quan tâm, có thể tôi sẽ tổng hợp và hiệu đính lại các bài viết này thành 1 quyển sách.

Tạm thời tôi viết không theo thứ tự đặc biệt nào, mà theo “hứng”. Các tài liệu chủ yếu của tôi làm cơ sở cho loạt bài viết này là bộ sách về thần kinh học trong giáo dục. Thay vì đọc các bài viết của tôi, bạn đọc có thể đọc trực tiếp bộ sách đó. Nhưng hy vọng những bài viết của tôi vẫn sẽ có “value added” nào đó so với bộ sách này.

Bài 1: Động cơ 4 kỳ của não.

Nói một cách nôm na, qui trình học của não có thể được chia thành 4 kỳ lặp đi lặp lại theo vòng tròn, tương tự như là động cơ 4 kỳ của cái ô tô. Bởi vậy tôi gọi nó là “động cơ 4 kỳ” của não cho dễ hình dung.

Từ trước khi môn thần kinh học hiện đại phát triển, ý tưởng về “động cơ 4 kỳ” của não này đã được một số nhà giáo dục học lớn như John Dewey và Jean Piaget đưa ra, đó là các kỳ:

1. Nhận thông tin từ bên ngoài  (concrete experience)

2. Liên hệ với những cái đã có trong não (reflexive observation)

3. Tổng hợp lại thông tin để tạo thông tin mới (synthesis/hypothesis)

4. Điều khiển cơ thể hoạt động dựa trên thông tin tạo ra, để sử dụng và kiểm tra nó (active testing)

Các hoạt động ở kỳ 4 hiểu là các hoạt động của cơ thể (cử động chân tay, viết, vẽ, nói, v.v.), do não điều khiển tạo thành.

Chu kỳ tuần hoàn là 1 -> 2 -> 3 -> 4 -> 1 -> …

Ví dụ. Một người học lái xe: (1)  nhận tín hiệu từ tai mắt (nhìn đường và nghe giáo viên nói), (2) liên hệ với những cái đã có trong não từ trước (ví dụ như nhìn thấy đường như vậy thì liên hệ tới khái niệm “đường thoáng”, kiến thức “đường thoáng có thể tăng tốc”, v.v.), (3) rút ra kết luận là cần làm gì  (tổng hợp các thông tin “đường thoáng”, “tốc độ đang còn chậm”, “đường thoáng có thể tăng tốc”, “tốc độ chậm thì nên tăng tốc”, “để tăng tốc thì nhấn ga”, v.v. để dẫn đến kết luận “tình huống như thế này cần nhấn ga”), (4) chuyển thành hoạt động (chuyển thông tin “cần nhần ga” thành tín hiệu điều khiển chân nhấn vào ga), (1)  nhận tiếp tín hiệu khác từ ngoài sau khi nhấn ga, v.v. Ví dụ như nghe thấy thầy dạy lái bảo, “sai rồi”, thì tiếp đến (2)  “thầy bảo sai, khi mình quên gì đó thì thầy bảo sai, …”, (3)  “tình huống thế này phải chuyển số đã”, (4) não điều khiển chân tay để chuyển số, đồng thời có thể điều khiển mồm hỏi thầy xem như vậy có đúng không, v.v.

Ví dụ trên cho thấy 4 kỳ của chu kỳ của não có thể xảy ra đồng thời (tai mắt luôn luôn thu nhận thông tin, trong đầu luôn hiện lên là cần phải làm gì, v.v.). Việc xử lý thông tin của não chủ yếu là đi theo vòng trình tự như trên, tuy có thể có lúc đi ngược lại, ví dụ như đến kỳ (4) não không biết phải bảo cơ thể làm gì, lại quay ngược lại kỳ (3) để đưa ra thông tin dễ chuyển thành hành động  hơn.

Tuy rằng cả 4 kỳ trong chu kỳ trên đều có thể xảy ra cùng một lúc, nhưng có những lúc có kỳ này nổi trội hơn các kỳ khác, và khi đó não được coi là đang thuộc kỳ đó. Ví dụ khi học sinh nghe giảng, thì não chủ yếu thuộc kỳ 1 và kỳ 2 (thu nhập thông tin và liên hệ với những khái niệm đã biết), khi suy luận mở rộng và thực hành thì chủ yếu thuộc kỳ 3 và kỳ 4 (vận dụng những cái đã có trong đầu để đưa ra những kết luận và hành động dựa trên những kết luận đó). Kỳ 1 và kỳ 2 được xếp vào phần thụ động, còn kỳ 3 và kỳ 4 được xếp vào phần chủ động của quá trình học (hay quá trình hoạt động của não nói chung). Cả 4 kỳ, và cả hai phần thụ động và chủ động, đều cần thiết cho quá trình hoc.

(Hình vẽ:  4 kỳ của chu kỳ học của não ứng với 4 phần vỏ não. Ảnh lấy từ trang 18 của quyển sách Zull, The Art of Changing the Brain: Biology of Learning, 2002)

Các nghiên cứu thần kinh học cho thấy 4 kỳ trên ứng với 4 phần sau của võ não (cortex — ở đây ta chỉ nói đến võ não, tạm thời bỏ qua sự liên quan đến các phần khác của não, và 4 phần này cũng không phải là toàn bộ vỏ não):  đó là  phần giác quan (sensory  & postsensory cortex, nằm ở phía sau gáy từ đỉnh đầu trở xuống), phần thái dương (temporal cortex, nằm ở gần hai bên thái dương), phần phía trước (frontal cortex, ở gần trán), và phần điều khiển cử động của cơ thể (premotor & motor cortex, ở gần đỉnh đầu). 4 phần đó của võ não cũng nằm thành 1 vòng để tiện cho việc truyền thông tin: phần 3 (frontal cortex)  nằm sát phần 4 (premotor & motor cortex), phần 4 nằm sát phần 1 (sensory & postsensory cortex), phần 1 nằm sát phần 2 (temporal cortex), và phần 2 nằm sát phần 3. (Phần 2 thực ra không giáp biên với phần 3, vì vỏ não thực ra có hình gần giống hình chữ U, với phần 2 và phần 3 là hai phía đầu của chữ U khép lại gần nhau, nhưng có một “đường cao tốc” các dây thần kinh chạy từ phần 2 đến phần 3). Sự xắp xếp tự nhiên về mặt vật lý này của não chứng tỏ cái qui trình hoạt động 4 kỳ phía trên của não (được các nhà tâm lý – giáo dục học nghĩ ra trước khi có sự phân tích tỷ mỉ về não) là một qui trình tự nhiên.

(1 hình vẽ minh họa vỏ não gần với thực tế. Phần ký hiệu “Area 6″ còn gọi là “premotor cortex”, để lên kế hoạch chuẩn bị cho chuyển động của các bộ phận của cơ thể. Những phần gọi là parietal lobe và occipital lobe có nhiệm vụ ghi nhận và xử lý sơ bộ thông tin gửi đến từ các giác quan, đặc biệt là thị giác chiếm phần occipital lobe. Chữ “lobe” trong hình có nghĩa là thùy não, bao gồm cả võ nào và phần sâu hơn phía trong. Hình lấy từ internet)

Như phía trên có viết, quá trình học gồm cả phần thụ động (kỳ 1 và kỳ 2) và phần chủ động (kỳ 3 và kỳ 4). Cấu trúc vật lý của não thích ứng với việc luân phiên hai phần thụ động và chủ động đó. Phương pháp giáo dục nào mà chỉ chú trọng đến thụ động (kiểu học vẹt) hay chỉ chú trọng đến chủ động (không học kiến thức mà chỉ đòi sáng tạo) cũng sẽ đều dẫn đến kết quả không tốt, vì sẽ có phần trong não kém phát triển ảnh hưởng xấu đến qui trình hoạt động của não. Những người học theo kiểu chỉ có thụ động là những người “biết nhưng không hiểu gì”: một đống thông tin nằm “chết” trong não, không vận dụng được chúng để giải quyết vấn đề gì, không có sáng tạo. Ngược lại, những người chỉ có chủ động là những người “hiểu nhưng không biết gì”. Nói chính xác hơn, thì họ thích nói và thích đặt câu hỏi, tỏ ra nhanh nhẹn hiểu biết lúc ban đầu, nhưng kiến thức chỉ dừng lại ở mức nông cạn, vì họ không chịu nạp kiến thức vào đầu, và do vậy cuối cùng cũng không gọi là “hiểu” được khi thiếu kiến thức.

Đây là một định luật quan trọng trong giáo dục: quá trình học phải có sự cân đối giữa việc nạp kiến thức (đọc sách, nghe giảng, v.v.) và việc dùng kiến thức (làm bài tập, thực hành, ứng dụng, phát triển, sáng tạo, v.v.).

Nhiều học sinh VN có điểm dở là quen lối học rất thụ động. Thay đổi cách học đó, cần chủ động nhiều hơn, nhưng không có nghĩa là không cần nghe giảng nữa!

Có lẽ bạn đọc sẽ đoán được một trong các lý do khiến tôi viết bài này: sau khi đọc các sách thấy rất hay (phần thụ động trong việc học về thần kinh học ứng dụng vào giáo dục) thì cần kiểm tra và ứng dụng kiến thức thu nhận được (phần chủ động của việc học này). Một trong các cách kiểm tra và ứng dụng chính là viết lại, giải thích lại cho người khác.

Có một câu châm ngôn rất hay, ứng với định luật trên về việc học, mà người ta gán cho Khổng Tử, tuy tôi chưa rõ có thật là do Khổng Tử nói không. Câu đó là

Học mà không nghĩ thì phí công, nghĩ mà không học thì nguy to

Ở câu trên, “học” hiểu là hoc theo nghĩa thụ động, còn “nghĩ” là phần chủ động sáng tạo.

Tài liệu chủ yếu cho bài này:

Zull, The Art of Changing the Brain: Biology of Learning, 2002

 

Print Friendly
 

4 comments to Não và học (1): “động cơ 4 kỳ” của não

  • [...] - Não và học (1): “động cơ 4 kỳ” của não (Zetamu). [...]

  • CTT MonsterID Icon CTT

    “Việc xử lý thông tin của não chủ yếu là đi theo vòng trình tự như trên, tuy có thể có lúc đi ngược lại, ví dụ như đến kỳ (4) não không biết phải bảo cơ thể làm gì, lại quay ngược lại kỳ (3) để đưa ra thông tin dễ chuyển thành hành động hơn.” (Admin)

    Theo em não vẫn phải quay về kỳ (1) bởi 2 lý do: 1, không phải là ở kỳ 4 não không đưa được ra quyết định gì, mà quyết định của nó là “không nên làm gì”; 2, không có thông tin mới thì lấy cái gì để tổng hợp rồi có quyết định mới.

  • admin MonsterID Icon admin

    CTT

    Tất nhiên là từ 4) đến 1) rồi, đấy là trục chính

    Ý tôi nói là có đường đi ngược từ 4 đến 3 nữa và 4 có thể yêu cầu 3 cho chỉ thị chính xác hơn về việc phải làm gì. Đấy là tôi hình dung vậy thôi, chứ ví dụ đấy là tôi bịa ra và chưa kiểm tra được nó đúng hay sai :-)

    (hệ thần kinh là đồ thị có hướng, đường đi đến riêng và đường đi ngược lại riêng, không cùng đường)

  • zyx MonsterID Icon zyx

    Nếu liên hệ với làm research thì: passive learning là đọc papers, textbooks, etc. Active learning là tập trung vào giải quyết bài toán, coding, etc.

    Nếu chỉ tập trung vào đọc hoặc chỉ tập trung vào coding thì đúng là không ra cái gì. Làm sao để cân bằng hai hoạt động này thật là khó.

    4 kì này khi áp dụng vào research, cụ thể là trong Computer Science, không biết trong Toán thì thế nào:
    1. đọc papers
    2. liên hệ phương pháp trong papers với phương pháp đã biết.
    3. thử áp dụng phương pháp (hoặc 1 phần, ý tưởng) vào bài toán mình đang giải.
    4. làm thí nghiệm để kiểm chứng sự hiệu quả.

Leave a Reply

  

  

  

You can use these HTML tags

<a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <strike> <strong>

Spam Protection by WP-SpamFree