DẠY HỌC LÀ MỘT NGHỀ VẤT VẢ

 

DẠY HỌC LÀ MỘT NGHỀ VẤT VẢ

Trương Đình Toe

Lên Vacsava kiếm sống, không quen buôn bán, Tam chạy taxi phục vụ bà con cộng đồng. Khách chủ yếu là các quý bà không biết lái xe, sáng từ nhà ra chợ trời „Sân vận động”, chiều từ chợ về nhà.

            Một dạo Tam thường xuyên chở một bà cực kỳ giầu sang đi chợ. Thấy anh kể đã  học đại học và sống lâu với người Ba Lan, bà khách nhanh trí nẩy ngay ra ý định thuê anh dạy quý tử nhà bà. Về phía anh cũng cảm thấy hay hay, cho rằng công việc ấy đỡ nhếch nhác, hợp với sở trường và khả năng của mình. Song nghĩ thế sai lắm. Dạy học xưa nay vẫn được coi là một nghề vất vả.

            Cổ nhân có câu: „Qua sông phải bắc cầu kiều, Muốn con hay chữ phải yêu lấy thày”.

Nhưng đấy là thời xưa, ngày nay người ta không thế. Trước khi mời Tam đến nhà bà chủ hỏi chồng:

            - Nên trả cho hắn bao nhiêu?

            - Bọn này công xá cũng rẻ mạt – ông chủ nói. – Nhà chị Hạnh thuê Tây về dạy, trả mỗi giờ 50 zloty. Mình cứ bảo trả 25 zloty, nếu hắn kỳ kèo thì tăng thêm.

            Tam đến nhà ông bà chủ được cả hai vợ chồng tiếp đón rất niềm nở. Đến lúc nói về giá cả, ông chủ đứng dạy sang phòng, để mình vợ ngồi đàm phán.

            - Anh định tính em bao nhiêu một giờ? – Bà chủ hỏi.

            - Tôi mới lên đây, giá cả không rõ không rõ – anh trả lời. – Cô xem mọi người ở đây thế nào rồi liệu mà tính, để cô cũng vừa lòng, mà tôi cũng bõ công.

            - Thôi em cứ trả anh 25 zloty một giờ.

            Tam ngạc nhiên nhìn bà chủ. Nơi anh sống trước đây là một vùng nông thôn hẻo lánh. Thỉnh thoảng anh cũng được hàng xóm Tây thuê dậy toán cho trẻ, chẳng mằng cả mằng lẽ gì, người ta cũng tự trả cho đến 35-40 zloty một giờ. Huống hồ đây là đất thủ đô, cái gì cũng đắt đỏ gấp đôi.

            - Cô trả tôi như vậy có thấp quá không?

            - Chị Hạnh hàng xóm nhà em thuê Tây hẳn hoi về dạy mà cũng chỉ trả có 30 zloty một giờ!

            Nhưng bà chủ nói thế càng chạm đến lòng tự trọng của Tam. Anh vốn là người kiêu hãnh, vẫn cho rằng mình chẳng may sa cơ lỡ bước, hay nói theo mê tín là do cái số, chứ nào có kém cỏi gì. Liền hỏi lại:

            - Thế cô cho tôi không bằng Tây hay sao?

            - A, không – bà chủ bị bất ngờ vội chữa. – Tính em bộc tuệch, anh thông cảm. Thôi anh cứ tính em 40 zloty một giờ, thế là hơn cả Tây. Cháu mới học lớp sáu, dạy cũng không khó khăn lắm.  Anh cố gắng giúp em.

            Tam thấy bà chủ thuộc loại dẻo mồm, nói môi không dính mép, phong cách giả tạo thì lấy làm khó chịu, đã định từ chối. Nhưng suy đi tính lại, nghĩ mình nghèo, mới chân ướt chân ráo lên đây, chẳng ai biết đến, được người ta thuê là may. Sau này nếu dạy tốt, có uy tín, bết đâu đấy chẳng phải là cái kế để sinh nhai. Chả hơn là lái taxi hầu mấy bà phàm tục? Thế là anh bắt đầu một nghề mới.

            Xa đất nước đã lâu, Tam nghiệm ra rằng, nếu ai đã trót sinh ra và lới lên ở nước Việt, dẫu sang Tây sống 100 năm cũng không thể trở thành Tây được. Dạy học anh vẫn theo cái lối cổ hủ của cha ông: „tiên học lễ, hậu học văn”. Lần đầu tiên đến dạy, anh theo ba chủ vào phòng thằng nhỏ, gặp lúc nó đương chơi máy tính.  Thấy mẹ và khách vào, nó quay ra trố mắt nhìn, miệng câm như hến.

            - Cháu tên là gì? – Thày hỏi.

            - Hùng Phi.

            - À, vậy là vẫn tên Việt Nam. Người Việt Nam ta gặp nhau bao giờ trẻ cũng phải chào già. Cháu có hiểu không?

            - Chào bác đi chứ! – Bà chủ quát con.

            Bấy giờ thằng nhỏ mới lí nhí không rõ tiếng. Nhưng Tam đoán là nó chào.

            Đi lại nhà học trò, Tam để ý thấy nó gặp hàng xóm láng giềng thì chớn mắt lên. Một lần tình cờ hắn cùng trò ra khỏi cửa, gặp lũ trẻ Tây thì chúng lại chào. Anh liền lưu ý:

            - Cháu thấy chưa? Các bạn ngoan thế sao cháu không học?

            Thằng nhỏ không nói gì. Nhưng lần sau có dịp, hắn hỏi lại: bây giờ gặp hàng xóm có chào không? Nó trả lời là có.

            Lại nhớ đến câu châm ngôn: „nhập gia tùy tục”, và người Ba Lan cũng có câu: „vào giữa đàn quạ hãy kêu như quạ”, Tam lưu ý trò từ cách ăn, nói, thưa gửi, cám ơn, xin lỗi, đi đứng… theo phong tục bản xứ. Anh thường nhắc trò: đàn ông ngồi ăn không được đội mũ, nơi công cộng không thò tay vào mũi mà ngoáy, không được khạc nhổ lung tung, nói chuyện với người lớn hay phụ nữ không thò tay vào túi quần, ngồi chỗ đông người không được ghé tai ai đó nói thầm, vì người khác có thể tưởng nói xấu họ…

            Học trò của Tam có cái tật ngồi miệng cứ há hốc ra, trông vừa ngớ ngẩn lại vừa buồn cười. Bảo nó ngậm lại thì nó nghe, nhưng được một tý lại há ra. Cuối cùng Tam hỏi:

            - Cháu có biết tại sao bác bảo cháu ngậm miệng lại không?

            - Không thì… – trò trả lời – ruồi nó bay vào!

            Tam bị bất ngờ với câu trả lời, nhưng không lỡ để trò xấu hổ, hắn giải thích:

            - Ừ, cháu nói cũng có lý. Việt Nam ta có câu :”chó ngáp phải ruồi”. Bên này không sẵn ruồi như bên ta, nhưng cứ há mãi thể nào cũng có con bay vào.

            Nhà ông ba chủ rộng mênh mông. Thày trò Tam mỗi hôm học một phòng. Một hôm vào một phòng rộng rãi, bàn ghế cực đẹp, tường sơn mầu xanh da trời nhàn nhạt, trần trắng toát, nhưng lại có những vết gì đó văng vít lung tung. Tam ngạc nhiên hỏi:

            - Vết gì thế kia?

            - Cà phê. – Trò trả lời.

            - Sao cà phê lại bắn cả lên trần nhà được?

            - Vì… thằng nhỏ ấp úng – bố mẹ cháu cãi nhau.

            - Mày nói dối. Có ai cãi nhau lại ngậm cà phê vào miệng mà phun lên trần nhà bao giờ? Bác không thích bị người nói dối. Nhưng thôi, có lúc bác cũng châm chước được.

            Nhưng đấy là „học lễ”, „học văn” thì vất vả hơn nhiều.

            Phải thừa nhận là ông bà chủ rất quan tâm đến việc học hành của của con cái. Mấy năm trước đã xin cho anh em Hùng Phi vào trường Mỹ. Bọn trẻ về nhà không nói chuyện với nhau bằng tiếng Việt. Cha mẹ chẳng hiểu gì nhưng cũng lấy đó làm mừng. Một hôm có ông khách đến chơi, thấy hai đứa lia láu thì ngạc nhiên hỏi:

            - Chúng nó nói với nhau bằng tiếng gì thế?

            - Bằng tiếng Anh bác ạ. – Bà chủ không giấu nổi vẻ tự hào.

            - Tiếng Anh đâu mà tiếng Anh!

            - Ô, thật đấy mà. Các cháu học trường Mỹ, nên nói tiếng Anh.

            - Khổ – ông khách gắt. – Tiếng Anh thì tôi biết. Đây không phải là tiếng Anh.

            - Thế nó là cái tiếng gì?

            - Đây có lẽ là tiếng… Ma-sai bên Phi châu!

            - Ma-sai nghĩa là thế thế nào? Sao lại tận bên Phi châu? – Bà chủ ngơ ngác.

            - Ma-sai là một bộ lạc người da đen rất nổi tiếng vì lòng dũng cảm và yêu tự do. Họ du mục trên thảo nguyên vùng xích đạo. Sống chủ yếu bằng nuôi gia cầm, nhà cửa làm tạm bợ bằng cành cây, lá cọ, nhiên liệu nấu nướng thì dùng phân bò phơi khô…

            Nguyên ở trường Mỹ có nhiều con nhà ngoại giao, trong đó có mấy đứa trẻ da đen. Ngoài giờ học chúng nói với nhau bằng tiếng mẹ đẻ. Anh em Hùng Phi thích chơi với chúng, và thay vì tiếng Anh lại học được một thứ tiếng thổ dân châu Phi chính cống.

            Bà chủ nghe ông khách giải thích mọi lẽ thì ngã ngửa người ra. Đợi chồng về, bà bắt đầu hạch sách. Tất cả cố nhiên là tại ông. Lại đua đòi trường Anh mới  chả Mỹ. Ngay từ đầu bà đã phản đối kịch liệt. Bao nhiêu tiền của thành ra đổ xuống sông xuống biển. Chả lẽ sau này lại gửi con sang thảo nguyên bên Phi châu mà du mục. Rồi bà ép ông phải xin cho con ra trường phổ thông thông thường của Ba Lan. Các quý tử của ông bà đâm ra bị nhỡ. Biết đến bốn năm thứ tiếng, nhưng chẳng tiếng nào ra hồn. Thành thử việc học hành khó khăn vô cùng.

            Đầu tiên theo kế hoạch, Tam chỉ  dạy môn toán. Rốt cuộc thì môn nào anh cũng phải giúp trò, chỉ trừ có môn văn (thực ra người ta không gọi là môn văn như ta, mà gọi là môn „tiếng Ba Lan”). Môn này thì anh khuyên cha mẹ thằng nhỏ thuê cô giáo người bản xứ.  Và đây tiết học toán đầu tiên:

            - Bố cháu bao nhiêu tuổi?

            - 44.

            - Mẹ cháu?

            - 38.

            - Cháu?

            - 13.

            - Thế còn em cháu?

            - Em cháu lên 9.

            - Vậy cháu hãy tính tuổi trung bình của gia đình cháu.

            Học trò không hiểu thế nào là giá trị trung bình. Thày lại giảng giải, rằng giá trị trung bình là giá trị nằm đâu đó ở giữa, chắc chắn không thể nhỏ hơn giá trị bé nhất, không lớn hơn giá trị lớn nhất. Giá trị trung bình các cháu học bây giờ là trung bình cộng. Nhà cháu có bốn người thì cứ cộng tuổi tất cả lại, chia cho bốn. Thằng nhỏ tính toán một hồi rồi thông báo:

            - Tuổi trung bình nhà cháu là 2 phẩy 6!

            Tài thật. Chẳng hiểu tại sao nó lại nhét được dấu phẩy vào giữa? Nhưng toán vẫn là môn thằng nhỏ giỏi nhất. Còn những môn khác thì khổ bằng mười. Ở Việt Nam chỉ cần giỏi toán, lý, hóa là được. Những môn khác không cần lắm. Bên này khổ nỗi, văn, sử địa, môi trường, mối sinh… môn nào cũng quan trọng cả. Môn văn (tức tiếng Ba Lan) người ta còn trọng hơn toán.

            Lại kể đến việc học văn (hay tiếng Ba Lan). Một hôm cô giáo Tây nghỉ, Tam phải dạy thay, vì có bài tập làm văn như sau: „Em hãy viết thư cho người bạn ở xa, kể về nơi em sống và mời bạn đến tham quan. Để khuyến khích, em hãy giới thiệu ít nhất hai địa điểm đáng quan tâm”. Tam giải thích ý tưởng, rằng phải viết như thế như thế… và bảo thằng nhỏ tự viết. Nó cặm cụi hai mươi phút, rồi trình tờ giấy có đúng hai câu, lại còn sai văn phạm, đại khái: Mời bạn đến thăm Vacsava. Đây có siêu thị Makro và Arkadia hay lắm – chấm hết. 

            -  Thủ đô Vacsava rộng lớn – thày cau mày – mà lại không có chỗ nào đáng thăm thú ngoài hai cái siêu thị hay sao? Nếu đến Vacsava chỉ để vào siêu thị thì ai người ta đến làm gì? Sao thế giới quan của cháu hạn hẹp đến thế?

            Lúc đó hắn mắng mỏ trò, sau lại cảm thấy hối tiếc. Thế giới quan của thằng nhỏ hạn hẹp đâu phải tại nó; thế giới quan của anh rộng lớn thì đã được tích sự gì. Anh đã lấy tiền công của bố mẹ nó thì nhiệm vụ của anh là dạy bảo nó, nhất là chẳng hiểu tại sao, nó là đứa trẻ rất ngoan. Nhưng nhiều lúc nói khản cả tiếng mà trò cứ ngơ ngác chẳng hiểu gì. Tiếc rằng nhân loại chưa nghĩ được cách bổ đầu người ra để đổ kiến thức vào. Nhiều khi bực vô cùng, nhưng chửi không chửi được, đánh không đánh được. Cái thời ông trạng Lợn đánh trò thừa sống thiếu chết đã vĩnh viễn qua rồi. Có lần anh hỏi trò:

            - Cháu có biết thế nào là „nước đổ lá khoai không”?

            Khoai ở đây là khoai nước của ta. Trò cả đời thấy lá khoai nước bao giờ mà hiểu.

            Lại có lần anh chán ngán, tỷ tê vẽ ra giấy chữ A, xóa đi một nửa rồi hỏi:

            - Đây là chữ gì?

            - Không biết.

            - Đây là chữ A bẻ đôi! Một chữ bẻ đôi cũng không biết thì học hành kiểu gì? – Rồi thày nhếch mép cười, tự hào nghĩ ra được một câu hỏi thâm nho. Hỏi thế thì đến bố nó cũng chẳng trả lời được.

            Một hôm Tam giúp thằng nhỏ về môn „thiên nhiên”. Có một câu hỏi: „Em hãy giải thích tại sao chim cu-cu được gọi là loài ăn bám”? (Chim cu-cu là loài chim  sống ở châu Âu và Bắc Phi, sẽ nói ở dưới). Thực ra trong sách giáo khoa người ta đã giải thích rành mạch. Bảo trò đọc thì nó đọc thông, phát âm chuẩn như người bản xứ, chỉ khác họ một điểm là đọc xong chẳng hiểu gì.

            - Cháu có biêt thế nào là loài ăn bám? – Thày hỏi.

            - Không.

            - Những loài động hay thực vật sống nhờ loài khác, ví dụ như cây tầm cửi  sống trên cây khác, giun sán sống trong ruột người… Cháu hiểu chưa?

            - Hiểu rồi.

            - Cháu có biết chim cu-cu la chim gì không?

            - Không.

            Đây lại kể đến chim cu-cu, tên khoa học của nó là Cuculus canorus. Tên ấy chắc người ta đặt theo tiếng hót. Lần đầu tiên Tam nghe đến loại chim này khi còn nhỏ ở Việt Nam. Bấy giờ chỉ nhỉnh hơn trò bây giờ một tý, cậu bé Tam có đọc một bài thơ của Nga dịch sang tiếng Việt như sau:

                                   „Bên sông xa vắng mênh mông

                                    Chim cu-cu mẹ nép mình bóng cây.

                                    Nỗi niềm thương nhớ bấy nay

                                    Khóc thương thảm thiết tháng ngày mất con”.

            Vì người ta chỉ dịch thơ, không chú giải gì, nên tưởng đấy là chim gáy và không hiểu tại sao cu-cu mẹ lại mất con? Tuy tuổi còn thơ, cậu bé cũng hiểu rằng, ở đời này người ta chẳng yêu ai bằng yêu con, vì thế thương cho cu-cu mẹ lắm. Nhưng số phận buồn tủi của cu-cu mẹ do nhà thơ hạy dịch giả mường tưởng mà ra, thực tế nó không đến nỗi bất hạnh như vậy. Loài chim này không bao giờ xây tổ. Đến mùa sinh sản, cu-cu mẹ đẻ trộm vào tổ của các loài khác như sơn ca, dạ oanh… một quả trứng, lẫn với trứng chim chủ nhà, và chẳng bao giờ quan tâm đến nữa. Chim chủ nhà không phân biệt được thực giả, ấp cho trứng nở, rồi nuôi cả con đẻ lẫn con nuôi. Cu-cu con khỏe, lớn nhanh, nhiều khi to hơn cả bố mẹ nuôi. Đến khi đủ sức, lập tức hất anh chị em ra khỏi tổ, để một mình tận hưởng sự chăm sóc của bố mẹ. Đủ lông đủ cánh rồi thì bay thẳng, chẳng thèm ngoái cổ lại.

            Tam giải thích cặn kẽ rồi hỏi trò:

            - Bây giờ cháu đã hiểu tại sao chim cu-cu được gọi là loài ăn bám?

            - Hiểu rồi.

            - Vậy thì cháu thử nói lại bác nghe!

            Thằng nhỏ đăm đăm nhìn qua cửa sổ, vẻ nghĩ ngợi vất vả hột hồi rồi thốt:

            - Tại vì… nó hót cu-cu!

            - Tao cũng đến chết với mày thôi – Tam  thở dài ngao ngán, nhìn học trò mà không biết nên cười hay nên khóc. Kiểu này thì cũng đến khuyên nó theo mẹ đi buôn, chứ theo thày học chữ không được. Ngày sau sẵn tiền, muốn có bằng tiến sĩ hay cử nhân cứ về nước mua thoải mái. Học làm gì cho mệt sức.

            Hết giờ, bà chủ thanh toán tiền. Trả xong bà hỏi:

            - Cô giáo dạy văn bảo cháu nói tiếng Ba Lan bây giờ rất tốt. Không hiểu chỗ bác nó học hành thế nào?

            - Cũng tốt lắm! – Tam trả lời – Nhưng từ tuần sau tôi không có thời gian dạy cháu nữa. Cô tìm cho cháu thày khác.

            Và anh cạch dạy học từ đấy, lại quay về với nghề lái taxi.

Print Friendly
 

37 comments to DẠY HỌC LÀ MỘT NGHỀ VẤT VẢ

  • Nguyễn Hưởng MonsterID Icon Nguyễn Hưởng

    Anh Dag nói không sai, hài hước phải đúng điểm rơi và phải trái khoáy; châm biếm cũng gần như thế. Với tôi, đó cũng là cái cần có để sống mà bớt đi những bực bội, có điều tôi không nhạy cảm như Anh (nên nhiều lúc có vẻ vô tâm).
    Anh Dag có một đam mê tuyệt vời. Về hai bản dịch của cụ Phan tôi thấy thế này:
    1. Vì không biết nguyên bản nó như thế nào nên thấy “Bỗng nhiên ở dưới hạ lưu có độ mươi chiếc thuyền gióng hàng bơi tới, trống đánh vang lừng, cờ bay phấp phới” có nhiều thông tin hơn (ở dưới hạ lưu); chữ ‘mươi’ nghe thật hơn chữ ‘mười’; từ ‘chiếc thuyền’ kém hơn ‘chiến thuyền’; ‘Bỗng nhiên’ kéo theo một nhóm từ ngữ dài ngoằn mất đi tính đột ngột.
    2. “Chợt nghe trống đánh vang lừng, cờ bay phấp phới, mười chiến thuyền gióng hàng bơi tới”, ngoài những so sánh ở trên ra, tôi thấy nhịp điệu câu văn này đẹp hơn nhiều ‘tùng tùng/tùng tùng/tùng tùng’; câu này nghe tiếng trống dồn dập bất ngờ với chữ ‘Chợt nghe’, cờ thấy trước , các chiến thuyền xuất hiện sau với 7 từ mang hình ảnh xăm xăm xông tới thật dữ tợn (nhưng ở đây thì chữ ‘mười’ lại hay hơn ‘mươi’ vì nó dứt khoát.
    Theo cảm nhận này tôi thấy câu thứ hai đẹp hơn nhiều.
    Anh Dag đã ‘hại’ tôi khi đề cập “Cơ hội của Chúa”. Tôi đã hiểu tại sao anh Dag dị ứng với tiếng ngoại lai (tôi không đủ kiên nhẫn để nắm nội dung của truyện đó). Nhưng Anh cũng nên bình tĩnh vì cùng một hiện tượng nhưng bản chất khác nhau, chúng ta thấy được điều đó chỉ khi cân nhắc cẩn thận.
    Vài ý ‘khoác lác’ với anh Dag.
    NH

  • Dag MonsterID Icon Dag

    “Anh Dag đã ‘hại’ tôi khi đề cập “Cơ hội của Chúa”. Tôi đã hiểu tại sao anh Dag dị ứng với tiếng ngoại lai (tôi không đủ kiên nhẫn để nắm nội dung của truyện đó)”. -Nguyễn Hưởng
    - Các trí giả của ta thì nhiều ông chán lắm. Tôi không giáo du nhiều với họ, nhưng nhớ tiếng mẹ để, thỉnh thoảng cũng đọc những điều họ viết. Ngày xưa tôi học lớp bốn, giờ tập làm văn, cô giáo dẫn chứng một đoạn như sau: “Trời tối đen như mực, em nhìn qua cửa sổ thấy ngọn tre đu đưa”. Và cô giải thích, không nên viết như thế. Vì trời đã tối đen như mực, nhìn qua cửa sổ làm sao thấy được ngọn tre. Lời dạy ấy tôi vẫn ghi nhớ trong lòng. Vậy mà cách đây khoảng ít năm, tôi có đọc truyện cổ tích “Trầu cau” do một ông TS ngôn ngữ học soạn, vớ ngay phải đoạn này: Khi người em giận anh chị, nửa đêm bỏ nhà ra đi, đến một dòng suối lại… xanh thăm thẳm. Nửa đêm sao dòng suối xanh được, lại còn thăm thắm nữa? Không hiểu ông này viết luận án tiến sĩ về đề tài gì? Viết thế tất nhiên cũng được, nhưng phải là văn thơ ở thể lọai khác, thể loại bút tre. Chẳng hạn ông bạn “phàm tục” của tôi chẳng có kiến thức về văn thơ, nhưng viết trêu một ông “phàm tục khác”:
    “Ve vẻ vè ve
    Có vè A Phủ
    Nửa đêm không ngủ
    Vác khèn thượng sơn
    Trời thì xanh rờn
    Núi non mầu đục
    Trăng hình bầu dục…”
    Ông này thực ra mới xứng đáng là tiến sĩ danh dự về văn thơ.

  • Nguyễn Hưởng MonsterID Icon Nguyễn Hưởng

    Tôi có một vấn đề về ngôn ngữ, giữ trong đầu hơn 15 năm nay mà không có dịp chia sẻ với ai. Nay đưa ra để anh Dag cùng bàn nhé.
    Huỳnh Mẫn Đạt có bài thơ Điếu Nguyễn Trung Trực, trong đó 2 câu nổi tiếng:
    Hỏa hồng Nhật Tảo oanh thiên địa
    Kiếm BẠT/BẠC Kiên Giang KHẤP/KHỐC quỷ thần
    Người ta không có bản gốc; có 2 bản khác nhau là BẠC-KHỐC và BẠT-KHẤP. Điều cần nói là tôi thích và thấy một bản hay hơn bản kia, và khổ nỗi là nó trái ngược với các nhà nghiên cứu ‘có thẩm quyền’ bên này. Muốn anh Dag cho biết cảm nhận của mình. Nếu ý kiến của chúng ta khác nhau thì có thể cùng tranh luận. Ở đây chúng ta cùng đi tìm Cái Đẹp, không phải đố khó gì đâu anh Dag nhé. (Tôi tham khảo chủ yếu tự điển Hán Việt Thiều Chửu trên mạn, không rành chữ Hán)
    NH

  • Dag MonsterID Icon Dag

    “Tôi có một vấn đề về ngôn ngữ, giữ trong đầu hơn 15 năm nay mà không có dịp chia sẻ với ai”.- Nguyễn Hưởng.
    - Thế thì phải “Hỏi tại sao thế giới đông người nhưng chỉ thấy riêng ta”. Hoặc “Thôi đành hỏi Em thì bỗng dưng nước mắt Em tuôn một dòng”

    “Muốn anh Dag cho biết cảm nhận của mình. Nếu ý kiến của chúng ta khác nhau thì có thể cùng tranh luận”.-Nguyễn Hưởng -Tôi với anh có thể nên làm như Chu Du và Gia Cát Lượng trước trận Xích Bích (nhường anh làm Gia Cât Lượng tất nhiên), mỗi người cầm bút viết vào lòng bàn tay, rồi cùng xòe ra xem có đúng chữ “Hỏa” không.

    “Hỏa hồng Nhật Tảo oanh thiên địa
    Kiếm BẠT (BẠC?) Kiên Giang KHẤP (KHỐC?) quỷ thần”.
    - Giá anh mà hỏi tôi về tiếng Ba Lan chắc tôi sẽ trả lời anh dành mạch được.Nhưng tiếng Ba Lan tiếc rằng chẳng có ai hỏi đến, trừ mỗi ông Trung Quốc! Vốn liếng tiếng Hán chắc tôi cũng chẳng hơn anh Hưởng được, vì tôi có học hành gì đâu. Tuy vậy hiểu được đến đâu cố gắng trả lời anh đến đó.
    Vì anh hỏi, tôi mới vào internet đọc được mấy bản dịch như sau:
    1) Bản dịch đề là của Ca Văn Thỉnh:
    “Lửa bừng Nhật Tảo râm trời đất
    Kiếm tuốt Kiên Giang rợn quỷ thần”.
    Nguyên chữ “râm” ở đây theo tôi đã là không được. Lửa đã bừng lên, hình như che kín cả mặt trời, thì làm sao có bóng râm được.
    2)Bản dịch đề là của Thái Bạch:
    “Lửa bừng Nhật Tảo rêm trời đất
    Kiếm tuốt Kiên Giang rợn quỷ thần”.
    Bản dịch này chỉ khác bản trên là thay chữ “râm” bằng chữ “rêm” . Nhưng chữ này nghe rất không hay lại còn tối nghĩa.
    3)Một bài phân tích rất dài của một người có vẻ giỏi tiếng Hán bút danh là Huỳnh Kim Chánh. Cuối cùng nhà phân tích dịch nghĩa: “Lửa đỏ rực sông Nhật Tảo làm rền trời đất
    Kiếm đánh bật thành Kiên Giang làm quỷ thần phải khóc”. Dịch như vậy theo tôi cũng hỏng. “Đánh bật” thì cùng lắm là bật bọn bảo vệ thành, chứ thành thì làm sao mà bật đi đâu được?
    Vấn đề khó ở chỗ, chữ thì Nho, âm thì Hán Việt mỗi miền phát thanh một kiểu, thể loại thơ nhất thiết phải là câu đối. Cả ba dịch giả trên đều dùng chữ BẠT chứ không phải BẠC. Hai vị đầu thì hiểu là rút hay tuốt (gươm) ra, vị sau thì hiểu là đánh bật đi. Vậy chữ BẠT là động từ, kéo theo chữ HỒNG ở câu trên (đối với chữ này) cũng phải là động từ. Nhưng chữ “HỒNG” đặt sau chữ “HỎA” hiểu là mầu hồng của lửa có lẽ đúng hơn, coi là động e rất gượng. Nhưng thay chữ BẠT bằng chữ BẠC liệu có được không? Tôi cho rằng được, và nên hiểu là… mầu bạc! Nếu như nói mái tóc bạc thì đấy là mầu bàng bạc hạy bềnh bệch. Nhưng nói dòng nước bạc thì rõ ràng là dòng nước óng ánh. Vậy thanh kiếm bạc thì cũng như dòng nước bạc, sáng nhoáng,sáng quắc, rất hợp. Thêm vào đó chữ “OANH” ở câu trên nên hiểu là oanh liệt, làm kinh thiên động địa… Đối với chữ này ở câu dưới không phải là chữ KHẤP mà là phải là chữ KHỐC, có thể hiểu như khốc liệt, làm người ta phải phát khiếp.
    Vậy thì nguyên bản chắc phải thế này:
    “Hỏa hồng Nhật Tảo oanh thiên địa
    Kiếm bạc Kiên Giang khốc quỷ thần”.
    Và phải dịch thế này:
    “Lửa hồng Nhật Tảo kinh trời đất
    Kiếm bạc Kiên Giang khiếp quỷ thần”.

    Tôi chẳng qua chỉ là một kẻ đi cầy ở Ba Lan, có mấy lời mạo muội, xin các ngài đừng chấp!

  • Nguyễn Hưởng MonsterID Icon Nguyễn Hưởng

    HỎA
    Anh Dag bày trò làm tôi nhớ tuổi thơ. Dag cho tôi làm GCL chỉ đúng có MỘT cái-’ngụ tại Thảo lư’!Nhưng không có đất cắm dùi đâu nhé. Ở các nước tiên tiến mà như tôi thì bị xem là hỏng toàn phần(haha).
    Tiếng thì làm sao mà một người biết hết, nhưng khả năng thấy được Cái Đẹp thì của chung và không phải ai cũng như nhau. Tôi chỉ hỏi Anh vì Dag không mang ‘ngoại hiệu’ nào khác nên tự xem như anh em.
    Thế là anh Dag và tôi thống nhất ‘hỏa công’. Bây giờ chỉ nói một vài cái vụn vặt nhưng có khác.
    1. Dag đề cập cái ‘râm, rêm’ tôi hoàn toàn đồng ý; trước có thử xem chữ ‘oanh’ Hán tự viết thế nào thì ra là 3 chữ ‘xa’xếp theo hình tam giác, vậy chắc phải là ‘làm rung chuyển’ và kêu ‘ầm ầm’ như đoàn xe đang chạy rồi.
    2. ‘đánh bật’hay ‘tuốt’; kiếm tuốt ra cầm tay còn thấy được cái đẹp chứ Kiên Giang tội tình gì mà bị ‘đánh bật’? Anh Dag phân vân về từ loại của ‘hồng’ và ‘bạc’, theo tôi thì thế này: Hán tự tượng hình, không biến đầu biến đuôi thay đổi từ loại như các ngôn ngữ phương Tây. Vì tượng hình nên gốc từ thường phải mang tính ‘Danh’, như chữ ‘oanh’ trên làm ví dụ. Ta xem một từ Hán là danh, động hay tính … là do chức năng của nó trong câu quyết định. Thế thì:
    -’hồng’ là ‘màu đỏ’, cũng có thể ‘đỏ rực’, hay ‘nhuộm/làm cho đỏ’…
    -’bạc’ là ‘màu bạc’ của một kim loại, cũng có thể ‘làm cho bạc’…
    3. ‘khấp’ là khóc mà không thành tiếng, khóc thầm, ‘Bất tri tam bách dư niêm hậu/ Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?’. Đây phải là ‘gào khóc’ mới đẹp; chữ ‘khốc’ gồm 2 chữ ‘khẩu’ kết hợp với chữ khuyển, khóc như bầy chó tru vậy.
    Qua đó, tôi cảm nhận 2 câu trên như thế này:
    1. Thơ cổ điển phải đối nhau từng tí mới đúng tinh thần. ‘hồng’ phải đối ‘bạc’ (có tính màu sắc) chứ không thể ‘bạt’; ‘oanh’ phải đối với ‘khốc’ chứ không thể lén lút như ‘khấp’.
    2. ‘lửa đỏ rực (ở sông) Nhật Tảo’ sao dữ dội bằng ‘(ánh sáng của)lửa làm đỏ rực (cả một vùng trời) Nhật Tảo?
    ‘kiếm tuốt/kiếm đánh bật (ở đồn) Kiên Giang’ sao khí thế bằng ‘(ánh thép của) kiếm làm bạc trắng (cả một vùng trời) Kiên Giang?
    Thật ra, khi còn là một chú nhóc tôi rất thích đọc mấy vị anh hùng dân tộc. Cứ mỗi vị trong sách sử ký ghi một câu gì đó đại diện. Ông Nguyễn Trung Trực trong sách hồi đó ghi là:
    “Hỏa hồng Nhật Tảo oanh thiên địa
    Kiếm bạc Kiên Giang khốc quỷ thần”
    Thế rồi, hình như vào khoảng đầu thập niên 90, báo chí Việt Nam đưa ra những bài ‘nghiên cứu’ của các vị ‘có thẩm quyền phát biểu’ và thế là những nơi có khắc hai câu này đều phải thay đổi hết! Những kẻ ‘tư duy lùn’ như tôi chỉ biết đưa mắt ‘ếch ngồi đáy giếng’ mà nhìn, đau khổ tưởng tượng mình là nhà thơ Huỳnh Mẫn Đạt cũng như anh hùng Nguyễn Trung Trực. Dù sao tôi vẫn mong các vị ấy đúng nhưng phải kèm theo lời giải thích thuyết phục. Hiện tại thì tôi vẫn:
    HỎA

  • Dag MonsterID Icon Dag

    Chào Anh Hưởng.

    Do tôi và anh đều không phải là chuyên gia tiếng Hán, ý kiến của chúng ta về hai câu thơ có thể không đúng, nhưng mấy ông ‘trí giả có thẩm quyền’ kia nhất định là sai. Ở đời là như vậy đó, có thẩm quyền thì nói gì mà chẳng có kẻ tán thưởng vỗ tay.

    Tôi quên không nói với anh về hai câu trong “Tam quốc” đã dẫn ở trên. Cả hai câu đều hay, nhưng tôi cũng như anh, cho rằng câu thứ hai hay hơn câu trước nhiều. Thời nay kiểu hành văn ấy không còn. Thay vào đó là kiểu hành văn với những từ ngữ bóng bẩy du dương, nhưng nhiều khi cực kỳ vô nghĩa.

  • Nguyễn Hưởng MonsterID Icon Nguyễn Hưởng

    “Thời nay kiểu hành văn ấy không còn.” (Anh Dag)
    Đúng lắm, Cái Đẹp nó phải được đặt trong cái nền (background) đúng của nó. Một dịch giả hay phải thấy điều này, một nhà văn làm việc dịch càng phải chú ý để không ‘diệt’ đi tinh hoa của nguyên bản do bị cái tôi đầy chủ quan lăm le xía vào. Tôi không phủ nhận sự sáng tạo của dịch giả, nhưng phải có lý. Văn phong phải mô tả được cái cảnh mà nó chuyển tải; Tào Tháo phải uống rượu không thể uống bia.
    Chúng ta thường thấy khi người ta đóng phim về lịch sử; các hoàng hậu mặc áo lai phụ nữ phương tây hiện đại xem thì mát mắt đàn ông nhưng thật ra không đẹp.
    Nhìn lịch sử của một thời cũng phải thế, không thể lấy cuộc sống hiện đại để kết tội cổ nhân. Vài lời có lẽ đã nhiều người nói nhưng thấy chưa cũ.
    NH

Leave a Reply

  

  

  

You can use these HTML tags

<a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <strike> <strong>

Spam Protection by WP-SpamFree