Nghệ thuật trong tai mắt Hegel

(Điếc không sợ súng)

Nhà triết học Hegel (1770-1831) cách đây 2 thế kỷ có viết triết lý nghệ thuật (thẩm mỹ học). Nghe nói các sinh viên văn chương phải học về mỹ học của Hegel, tuy nhiên chẳng mấy ai hiểu ông ta nói cái gì. Bởi vì Hegel có tiếng là viết khó hiểu, đến mức  nhà triết học Schopenhauer (1788-1860)  phê phán tác phẩm của Hegel là “một đống bùng nhùng lắm chữ mà ít nội dung”, và ngày nay trong giới triết học người này vẫn bảo người kia là hiểu sai Hegel.

Ở đây tôi thử trình bầy lại một vài quan điểm chính (trong cả một núi quan điểm) của Hegel, và những giới hạn trong tư tưởng của Hegel về nghệ thuật, theo các tài liệu tôi tham khảo được. (Tôi không có dủ sức đọc bản gốc, mà đọc lại những tài liệu giải thích là chính. Trong khoa học thì đây là việc bình thường: khi học mấy ai học tài liệu gốc khám phá ra định luật gì đó, mà là đọc sách hiện đại đã tổng hợp lại các kiến thức và viết lại nó một cách dễ hiểu hơn theo ngôn ngữ hiện đại. Không đọc tài liệu gốc là một hạn chế, nhưng không ai có thời gian đi đọc hết các tài liệu gốc trừ khi là người nghiên cứu chuyên nghiệp). Hegel cách chúng ta hai thế kỷ, nên những gì Hegel viết thời đó có thể là rất mới mẻ cách mạng, nhưng bây giờ thì nhìn nhận lại có thể thấy có những cái đã thành lạc hậu.

Trong tai mắt của Hegel (tôi cố tình dùng chữ “tai mắt” thay vì “con mắt” !), nghệ thuật chia thành 5 môn (hình thái): kiến trúc, điêu khắc, hội họa, âm nhạc, và thơ văn (gộp chung cả kịch và múa vào thơ văn). Thời Hegel chưa có điện ảnh và một số thể loại khác xuất hiện cùng với sự phát triển của công nghệ, không biết theo Hegel thì chúng có cần được xếp riêng không hay gộp vào một trong 5 môn kia. Từ nghệ thuật theo nghĩa của Hegel chỉ liên quan đến nghe nhìn (tai mắt) mà không liên quan đến các giác quan khác. Ví dụ, dù người ta có làm ra một chùm hương vị hay đến mấy, khi được ngửi chùm hương vị đó, từ hương vị này tiếp đến hương vi khác, con người trở nên sảng khoái đến mấy, thì nó vẫn không được tính là nghệ thuật theo Hegel. Rượu dù ngon đến mấy, để lại trên lưỡi bao nhiêu vị khác nhau, theo Hegel cũng không phải là nghệ thuật.

Ta có thể hình dung 5 hình thái trong sự phân loại của Hegel như là 5 hướng (chiều) của một không gian các nghệ thuật, và mỗi nghệ thuật không phải là chỉ nằm trong một hướng duy nhất, mà có cả “tọa độ” ở chiều này lẫn chiều khác. Ví dụ như một bài hát gồm có cả pĥần nhạc (âm nhạc) và phần lời (thơ văn), và có thể cả các hình ảnh minh họa trên sân khấu hay trong video nữa. Tuy nhiên, 5 trục này của Hegel “vừa thừa vừa thiếu” để mô tả không gian các nghệ thuật. Nói ví von theo ngôn ngữ toán học, thì chúng như là  mộtbộ 5 không gian con trong không gian véc tơ các nghệ thuật, nhưng 5 không gian đó vừa không độc lập tuyến tính với nhau, vừa không sinh ra toàn bộ không gian các nghệ thuật. Việc Hegel xếp cả nghệ thuật múa vào chung với thơ văn có phần gượng ép: múa có nhạc (âm nhạc), có hình (tuy hình ở đây là hình động chứ không tĩnh), chứ nói chung không có lời. Người ta xem múa không cần hiểu như là hiểu một câu văn hay đoạn kịch, mà chỉ cần cảm thấy đẹp.

Thời của Hegel, môn thần kinh học (neuroscience) chưa phát triển, người ta chưa nghiên cứu được cấu trúc và qui tắc hoạt động của các thành phần của hệ thần kinh ra sao. Với các hiểu biết về thần kinh học, chúng ta có thể phân tích nghệ thuật, từ quan điểm tương tác của những cái được gọi là nghệ thuật với hệ thần kinh. Chúng ta cảm nhận được nghệ thuật, là do nó có ảnh hưởng đến trạng thái thần kinh. Và ảnh hưởng đi qua các giác quan. Con người có ít nhất 5 giác quan, thì nghệ thuật cũng có thể đi qua cả 5 giác quan. Nếu nhìn từ quan điểm này, thì một mùi nước hoa đặc biệt cũng là nghệ thuật. Biết đâu sau này, người ta sẽ sáng chế ra được các phim tỏa mùi luôn: mỗi đoạn phim ứng với một thứ mùi thích hợp. Khi đó không thể nói phần mùi trong phim không phải là nghệ thuật.

Nói theo kiểu toán học, mọi thứ đều có nhiều cách biểu diễn (representation) khác nhau, với độ chính xác khác nhau. Cách phân chia của Hegel cũng có thể coi như một cách biểu diễn không gian các nghệ thuật, tuy rằng từ quan điểm hiện đại thì nó không được chính xác lắm. Để biểu diễn và phân loại chính xác hơn, có lẽ cần nhiều chiều hơn, ví dụ như dùng các đặc trưng sau:

* Tĩnh hay động (có chiều thời gian hay không). Tranh, ảnh, tượng, kiến trúc thường là tĩnh, còn múa, nhạc, kịch, phim, v.v. thì là động.

* Có cần hiểu nghĩa không, hay cần cảm nhận là đủ. Ví dụ văn, thơ, kịch, và một số loại tranh tượng cần hiểu nghĩa mới thưởng thực được. Múa, nhạc, và một số loại tranh khác chỉ cần cảm nhận là chủ yếu. “Hiểu” và “cảm nhận” liên quan đến hai cơ chế hoạt động khác nhau của hệ thần kinh, và cũng có khi không có biên giới rành rọt giữa hai cách tiếp thu này. Cuối cùng thì cũng là cảm thụ, nhưng sự khác nhau nằm ở chỗ cảm thụ ngay trực tiếp, hay phải qua xử lý bằng cách hiểu nó đã rồi mới cảm thụ.

* Tác động đến con người qua các giác quan nào. Ví dụ như tranh ảnh là qua mắt, nhạc là qua tai. Thơ thì sao? Thơ có thể qua mắt mà cũng có thể qua tai. Bài thơ được đọc thì thành tác phẩm nghệ thuật trong đó có cả sự đóng góp của người đọc nó. Không loại trừ các tác phẩm nghệ thuật mà người ta cảm thụ được qua các đường mũi, lưỡi, da, và thậm chí cả “giác quan thứ 6” nữa.

* Mấy chiều không gian. Đối với người xem, tượng khác tranh ở chỗ nó có 3 chiều. (Công nghệ mới cho phép chiếu các hình 3 chiều (hologram) và như vậy cũng có nghệ thuật hình 3 chiều. Phân biệt nó với tượng bằng tính chất gì ? Tính chất sờ được, tức là dùng xúc giác ?!)

* Mức độ trừu tượng

* Thực hay ảo. Thời Hegel câu hỏi này cõ lẽ chưa đặt ra, nhưng thời đại mới có cả các nghệ thuật tồn tại trong “thực tế ảo” (virtual reality).

v.v.

Sự phân chia đa chiều trên cho thấy sự phong phú đa dạng của các hình thái nghệ thuật, hơn nhiều so với quan niệm của Hegel về nghệ thuật.

(Hình: Một tác phẩm điêu khắc dựa trên cấu trúc “borromean” trong toán học. Nếu chiểu theo Hegel thì có khi nó không được tính là “nghệ thuật chân chính” vì nó không có “nội dung” gì liên quan thế giới thực, tuy rằng sẽ có nhiều người công nhận là nó đẹp)

Ngoài vấn đề hình thái, Hegel đặc biệt chú trọng đến nội dung của nghệ thuật. Theo Hegel, một tác phẩm nghệ thuật đúng nghĩa thì cần có cả hình thái (form) lẫn nội dung (content). Nội dung ở đây là nội dung nói về cái gì đó, ví dụ như về Đức mẹ đồng trinh. Tranh, tượng, bài hát, công trình kiến trúc nhà thờ có thể là các hình thái nghệ thuật khác nhau với cùng một nội dung Đức mẹ đồng trinh trong đó. Theo Hegel thì nghệ thuật phải có mục đích (nói nôm na là “nghệ thuật vị nhân linh” hay “nhân gì đó”); mục đích chính là dùng hình thức để truyền tải cái đẹp của nội dung, và nội dung chủ yếu xoay quanh con người và cái mà Hegel gọi là “sự tự do đích thực về tinh thần” của con người. “Sự tự do” ở đây, theo triết lý của Hegel, là hướng tới cái linh thiêng (divinity) , tới tôn giáo. Ông là người theo Thiên chúa giáo, và tin hoàn toàn vào lý thuyết chúa 3 ngôi (chúa cha, chúa con, và thánh thần).  Bởi vậy, các tác phẩm nghệ thuật mô tả con người hay thần thánh của con người thường được Hegel đánh gía cao nhất. Theo tiêu chuẩn của Hegel thì nhiều tác phẩm hội họa hay điêu khắc hiện đại sẽ không được xếp vào “nghệ thuật đích thực” vì nó “không có nội dung”. Hegel cũng đi tìm mục đích của âm nhạc. Đối với ông, âm nhạc là một trong các “nghệ thuật chân chính” không phải vì nó “hay”, mà bởi vì nó cho phép con người ta có được sự hòa hợp và thỏa mãn trong cái người ta gặp.

(Tranh”Ngủ trưa” của Gauguin, 1894, một ví dụ về “figurative art”)

Theo Hegel thì “nghệ thuật chủ yếu là hình tượng” (art is essentially figurative). Tôi không tìm được đúng nguyên văn câu nào Hegel nói như vậy (mà đây là những người khác giải thích là ông nghĩ như vậy), nhưng có thấy là trong quyển sách “Các bài giảng về mỹ học” của ông (Vorlesungen über die Ästhetik) gồm có 3 phần, thì phần 2 là “Die symbolische Kunstform” (dạng nghê thuật hình tượng) trong đó ông bàn về các dạng hình tượng, từ trong tiềm thức đến trong ý thức. Tôi tạm hiểu là: theo Hegel, nghệ thuật chủ yếu là phản ảnh cuộc sống thực và tín ngưỡng của con người (đây là mục đích nghệ thuật theo Hegel) , và dùng các hình tượng để phản ánh những cái đó. Ví dụ, các tác phẩm hội họa chính là các hình tượng: bản thân chúng không phải là cuộc sống thực, nhưng chúng mô tả cuộc sống thực. (Đối với Hegel, các tranh nghệ thuật trừu tượng không nhằm mô tả cái gì liên quan đến thế giới của con người thì không phải “nghệ thuật chân chính”). Trong tiếng Anh, cụm từ figurative art có nghĩa là các tác phẩm nghệ thuật (đặc biệt là tranh và  tượng) được phái sinh từ các  “nguồn thực” (real object sources). Các bức tranh hội họa siêu thực (surrealist) thì không  được xếp vào “figurative art”.

(Tranh “Birth of the world” của Juan Miro,  1925, xếp vào trường phái siêu thực, không phải là figurative art, và chắc là theo Hegel thì cũng không phải “nghệ thuật đích thực”).

Nếu đòi hỏi nghệ thuật nào cũng phải là “figurative art”, thì chúng ta bị mất đi hàng loạt tác phẩm nghệ thuật trừu tượng  đặc sắc. Có thể xem ví dụ một loạt các tác phẩm được xếp vào loại “non-figurative art” ở đây. Trong thế giới hiện đại, tư tưởng “art is essentially figurative” trở nên hơi lỗi thời. Khi mà “nghệ thuật vị nghệ thuật” không còn nhất thiết phải lấy con người, lấy cuộc sống thực, làm chủ đề nữa,

Tuy rằng quan điểm “art is essentially figurative” của Hegel đã hơi lỗi thời, nhưng có một số nhà thông thái ở VN vẫn coi nó như là chân lý, và còn đòi mang nó vào dạy cho học sinh tiểu hoc. Họ dịch nó thành

“Nghệ thuật dựa trên hình tượng”

nhưng nghĩa của danh từ “hình tượng” ở đây đã bị hiểu hơi khác so với tính từ hình tượng của Hegel. Bức tranh của Gauguin phía trên, cũng như mọi bức tranh tả thực khác, đều thuộc “figurative art”, tuy rằng khó có thể nói cái gì là “hình tượng” trong đó theo nghĩa tiếng Việt.

Một vài tài liệu tham khảo:

* Từ điển triết học Stanford, đoạn về mỹ học của Hegel:

http://plato.stanford.edu/entries/hegel-aesthetics/

* Các bài giảng của Hegel

G.W.F. Hegel, Vorlesungen über die Ästhetik, http://www.textlog.de/5746.html (Phần II: Die symbolische Kunstform)

 

Print Friendly

18 comments to Nghệ thuật trong tai mắt Hegel

  • bích phượng MonsterID Icon bích phượng

    Quan điểm của Hegel “art is essentially figurative” không phải “hơi lỗi thời” mà quá lỗi thời. Đương nhiên, cái đó không phải lỗi của Hegel (so với thời của mình thì Hegel cũng tiến bộ hơn người rồi) mà do bản thân nghệ thuật phát triển không ngừng.

    Trong “Fonctions de la peinture” (Các nhiệm vụ của hội họa”) xb nửa thế kỷ trước, Ferdinand Léger đã viết rất hay: « L’art consiste à inventer et non à copier… L’art doit être libre dans son invention, il doit nous enlever à la réalité trop présente. » (Nghệ thuật là sáng tạo chứ không phải là sao chép… Nghệ thuật phải tự do trong sự sáng tạo của nó, nó phải mang chúng ta ra khỏi cái hiện thực đâu cũng thấy này”.

    Marcel Duchamp lộn ngược chiếc bồn tiểu bày trang trọng giữa phòng triển lãm, Picasso vẽ những khuôn mặt dị dạng … những ví dụ này có từ đầu thế kỷ trước. Sau này, nhiều nghệ sĩ còn sáng tạo cả bằng phân người, phân súc vật (chẳng hạn dùng phân voi để vẽ Đức mẹ Đồng trinh). Hegel làm sao mà hình dung nổi?

    Bây giờ trong ngành, thuật ngữ “art figuratif” cũng ít người dùng (thường là các galerie hay sử dụng để giải thích cho khách hàng). “Art abstrait” cũng lỗi thời từ lâu. Nghệ thuật đương đại càng ngày càng là tổng hợp của nhiều thể loại, nên xuất hiện những thuật ngữ mới như “art conceptuel” (nghệ thuật ý niệm), “installation” (nghệ thuật sắp đặt), “performance”…

    Cụ Hồ Ngọc Đại mà quan niệm “Nghệ thuật dựa trên hình tượng” thì đúng với đường lối “hiện thực xhcn” của đảng ta quá rồi, có gì mà phải học hỏi? Văn nghệ VN đẩy đi không hết những hình tượng với tượng đài, “Anh ngã xuống trên đường băng Tân Sơn Nhất/ Nhưng anh gượng đứng lên tì súng trên xác trực thăng/Và anh chết trong khi đang đứng bắn/ Máu anh phun theo đạn lửa cầu vồng…”.

    Hình tượng này, xét ra, cũng chẳng đúng như yêu cầu nghệ thuật của Hegel. Vì bịa hoàn toàn, với mục đích là tuyên truyền, hô khẩu hiệu. Thế nên không được coi là “Hiện thực”, và đành bịa ra một cái tên mới là “Hiện thực XHCN”. Liên Xô, Trung Quốc ngày xưa làm trùm vụ này. Cụ HNĐ làm đến TS tâm lý học ở LX, nên nhập khẩu về VN, tuy cũng có sáng tạo vài cái tên rắc rối hơn so với các cụ trường Nguyễn Ái Quốc?

    Nói thế, không có nghĩa là phủ nhận hoàn toàn quan điểm về GD của cụ HNĐ.

  • admin MonsterID Icon admin

    Hehehe, theo Đảng, “mục đích cao cả” của mọi hoạt động tác động đến tinh thần, là để tuyên truyền cho dân.
    Thế nên Báo Chí là Tuyên Truyền, Lịch Sử là Tuyên Huấn, Nghệ Thuật là Vị Đảng Ta.

  • Mitca MonsterID Icon Mitca

    Hồi lâu lâu rồi tôi đọc Mỹ học của Hegel do Phan Ngọc dịch thấy khá là chán nên chỉ được vài trang, không đủ kiên nhẫn đọc tiếp nữa. Tôi nghĩ triết gia nào, dù nổi tiếng đến đâu cũng vậy, chỉ được 1 vài tư tưởng hay thôi, còn lại là cát, mà người ta phải đãi để tìm vàng. Nhưng cấu trúc Borromean của GS Zũng liên quan đến thế giới thực đấy chứ, bởi nó là tổ hợp những hình dạng đã biết của thế giới thực.

  • […] Nghệ thuật trong tai mắt Hegel […]

  • HA MonsterID Icon HA

    @admin

    (cũng điếc không sợ súng)

    “Die symbolische Kunstform” trong Mỹ học Hegel theo cá nhân tôi nên dịch là “Hình thức nghệ thuật mang tính biểu tượng”.
    Lưu ý tính từ “symbolisch” thuộc lớp các danh từ “Symbol” (symbol), “Symbolik” (symbolism). Sự chuyển nghĩa từ “symbolisch” sang “figurative” của tiếng Anh rồi sang “hình tượng” của tiếng Việt hình như đã bó hẹp nghĩa ban đầu, thành ra chỉ còn là nghệ thuật tạo hình (figurative art).

    Theo tôi, Hegel xem nghệ thuật là sản phẩm có tính cách biểu tượng, biểu trưng, tượng trưng.
    Nó “nói về, “hướng tới”, “cho ta hình dung”, “truyền tải đến ta” cái gì đó mang tính thẩm mỹ.
    Trong nghĩa này, những thứ được chứa đựng trong tác phẩm nghệ thuật có thể là cái đẹp của sự đối xứng như cấu trúc borromean, hoặc cái đẹp hòa âm của một bản nhạc, hoặc cả những ẩn nghĩa nào đó của trường phái tranh lập thể (xin lỗi, tôi là dân ngoại đạo về hội họa).

    Chỉ đóng khung trong nghĩa “mô tả”, “tái hiện” thế giới hiện thực và gán điều đó cho tư tưởng Hegel thì có phần khiên cưỡng.

  • phạm thụ MonsterID Icon phạm thụ

    Có lẽ vì Phan Ngọc đã dịch “Các bài giảng về mỹ học” của Hegel (nghe nói là một bản dịch không tốt lắm) nên Bùi Văn Nam Sơn đã không dịch quyển này. Mất một cơ hội để được đọc một bản dịch rành mạch từ nguyên tác và phần chú giải cặn kẽ. Dịch không theo nguyên bản rất dễ gây hiểu lầm, chẳng hạn như bạn Hà lưu ý về từ symbolisch của Hegel.Học không đến nơi đến chốn nguy hiểm lắm và dễ dẫn tới chỗ phán bừa như thói quen đáng sợ của người VIỆT NAM ta!

  • admin MonsterID Icon admin

    Ngày xưa, “khoa học” được gọi là “triết học tự nhiên”
    Nếu đổi vế, ta được “triết hoc = khoa học thiếu tự nhiên” :D
    Bất kỳ vấn đề gì (mỹ học chẳng hạn), nếu phân tích một cách khoa học, thì thành khoa học, còn phân tích một cách bùng nhùng, đọc vào dễ thành tẩu hỏa nhập ma, thì thành triết học. Hồi tôi còn là sinh viên, có nghe lỏm được 1 câu đại loại “nhà khoa học nào mà không làm được khoa học, thì đi làm triết học”. Còn câu này thì là của ai đó có thật: “nhà khoa học là người khám phá, còn nhà triết học là khách du lịch” Nói cho vui vậy, hy vọng không không làm phật ý các nhà triết học.

    Quay lại vấn đề “Kunst ist symbolische” của Hegel, tôi không đọc nổi sách Hegel, nhưng có đọc các tài liệu giải thích từ “symbolische” ở đây hiểu theo nghĩa “không phải để cho đẹp, mà là để làm hình tượng chuyển tải nội dung gì đó (theo Hegel nghệ thuật phải có “content” mới là “nghệ thuật chân chính”), và cũng theo Hegel thì nội dung cần chuyển tải quan trọng nhất là nội dung về con người và tín ngưỡng của con người. Ví dụ như rượu trong thiên chúa giáo rượu tượng trưng cho máu của chúa, và người ta vẽ tranh người uống rượng để nói về đề tài tín ngưỡng. Tôi có xem mục lục các bài giảng của Hegel, viết về các hình tượng tiềm thức (ở mức sub-conscience) và có ý thức, và hình dung là các hình tượng đó đều xoanh quanh con người và tín ngưỡng của con người. Như vậy, có thể hiểu quan điểm “art ist symbolische” là quan điểm “nghệ thuật dùng các hình tượng để truyền tải nội dung về thế giới của con người và tín ngưỡng của con người”.

    Sang tiếng Anh, “Kunst ist symbolische” được người ta dịch thành “art is figurative”, với tính từ figurative ở đây cũng được hiểu nghĩa như từ symbolische tiếng Đức theo quan niệm của Hegel, và bởi vậy những tranh siêu thực thì được coi là non-figurative vì không phản ánh nội dung gì về con người hay tôn giáo.

    Nói tóm lại, quan điểm “Kunst ist symbolische” là quan điểm “nghệ thuật vị nhân linh” hay là “nhân gì đó”. Tôi không biết dùng từ linh ở đây có đúng không, hay là “nhân sinh” hay “nhân gì đó khác đúng hơn”. Việc “nghệ thuật vị nhân gì đó” hay “art ist symbolische” (hiểu theo bất cứ nghĩa nào) có lẽ đều không sai, nhưng tất cả những câu như vậy đều chỉ là “một phần chân lý”, phản ánh một khía cạnh của nghệ thuật thôi, chứ không phải “toàn bộ chân lý”. Khi đem cái đó dạy cho trẻ em như là một “chân lý duy nhất”, thì thành một sự giáo điều nguy hiểm.

    Tất nhiên, bản thân từ “nghệ thuật” có nhiều nghĩa rộng hẹo khác nhau, không có nghĩa nào là nghĩa “duy nhất đúng”. Khi tranh luận về nghệ thuật mà hai người khác nhau hiểu nó theo 2 nghĩa khác nhau, thì sẽ dễ dẫn tới “ông nói gà, bà nói vịt”. Nếu lấy “cảm thụ” làm tiêu chí (cái gì mà làm cho có người thấy đẹp, thấy thích, thấy hay, nói tóm lại là tạo một sự thỏa mãn về tinh thần mỗi khi thấy nó, thì có thể gọi là tác phẩm nghệ thuật), thì nghệ thuật không nhất thiết phải có hình tượng, không nhất thiết phải phân tích xem nó có hình tượng hay không, miễn sao có người cảm thụ được là được. Ví dụ, nếu tôi nhìn vào bông tuyết thấy đẹp, thì tôi thấy đó là nghệ thuật (bông tuyết do tự nhiên tạo ra, nhưng nếu cần người ta cũng có thể làm một cách nhân tạo), tôi cần gì quan tâm xem nó truyền tải nội dung gì, cần gì biết hình tượng ở đó là gì, mà chỉ cần thấy nó đẹp.
    Có người sẽ phản đối là “bông tuyết là tự nhiên, hình tượng của nó chính là nó”, nhưng chẳng hạn khi người ta nhìn một bức tranh mà chỉ toàn các gam mầu, không có hình gì trên đó có thể gọi là “hình tượng của tự nhiên”, có những người vẫn có thể thấy nó đẹp được, vì nó vẫn “cộng hưởng được” đến các “dây thần kinh” nào đó của người ta. Khi người ta cứ đòi hỏi nghệ thuật phải có hình tượng đi theo một mục đích nào đó, thì nghệ thuật biến thành tuyên huấn.

    Một điểm quan trọng của nghệ thuật nằm ở sự tưởng tượng (imagination), và điểm này quan trọng không chỉ trong nghệ thuật, mà trong cả khoa học. Hình tượng thì thừa, nhưng trí tưởng tượng phong phú thì hiếm hơn. Sao người ta không lấy “nghệ thuật dựa trên trí tưởng tượng” làm tiên đề trong việc dạy trẻ về nghệ thuật ?

  • Mitca MonsterID Icon Mitca

    @Phạm Phụ: Tôi không nghĩ là ông Phan Ngọc kém ông Bùi Văn Nam Sơn đến thế. Kém đến mức dịch mà phá hỏng toàn bộ cái hay của tác giả, khiến cho độc giả hoàn toàn không hiểu được hầu hết những tinh túy của Hegel.

    Tôi nghĩ, nhiều nhà nghiên cứu triết học (kể cả trên thế giới chứ không chỉ Việt nam) giống như các tín đồ tôn giáo. Họ bảo vệ và thưởng thức những thứ mà họ có thể hiểu được. Họ coi Hegel như đấng tối cao, phát biểu cái gì cũng siêu phàm, tầng tầng lớp lớp ý nghĩa. Họ tự nhủ nếu có chỗ nào mình không hiểu được, không logic thì là do mình kém, mình nông cạn chứ Hegel không thể nào sai. Những kẻ tầm thường, không có tiếng tăm gì mà dám chê Hegel thì ắt là “ếch ngồi đáy giếng”.

    Nhiều nhà nghiên cứu triết, giống như nhà phê bình văn chương, tán dương một câu thơ ra bao nhiêu nghĩa theo sự tưởng tượng của họ, trong khi tác giả không hề có ý định nói thế. Chính vì vậy, những phát biểu rối rắm, bùng nhùng, non kém, qua tay họ cũng có thể trở thành hoành tráng, sâu sắc. Có lẽ đây là điểm khác biệt giữa các ngành khoa học chính xác và các ngành khoa học nhân văn: nhà KHCX thì không sáng tác thêm và chỉ quan tâm phát biểu đó Đúng hay Sai. Còn nhà KHNV thì dựa trên giả thuyết phát biểu ắt là phải Đúng và mình phải tô vẽ làm sao để nổi bật cái hay cái đẹp, cái đúng của nó.

    Đành rằng Triết học vừa là Khoa học vừa là Nhân văn, nhưng trong một tác phẩm, có những phát biểu thuộc về Nhân văn và có những phát biểu hoàn toàn mang tính Khoa học. Phát biểu mang tính Nhân Văn thì độc giả được quyền sáng tác, tô vẽ thêm, còn phát biểu mang tính Khoa học thì không. Tôi nghĩ thông thường các nhà KHCX phân biệt cái này tốt hơn, bởi vì họ có tư duy…chính xác, cho nên rạch ròi. Trong khi các nhà nghiên cứu chịu ảnh hưởng của KHNV thì hay bị lẫn lộn.

    Tuy nhiên, tôi không có ý định vơ đũa cả nắm, bởi đa phần nhà nghiên cứu thực thụ của phương tây cũng phê phán Hegel, Kant ghê gớm lắm. Tôi cũng không có ý định phủ nhận thiên tài của Hegel. Để có được một vài tư tưởng hay khiến toàn thế giới, suốt bao nhiêu thế kỷ phải học hỏi dĩ nhiên là kỳ vỹ. Có điều, tôi nghĩ nhà nghiên cứu cần có tinh thần phê phán cao. Những lý luận kiểu như đổ lỗi cho dịch giả tôi cho là không ổn.

    Về cuốn Mỹ học của Hegel, tôi nghĩ là một tác phẩm bình thường, không có gì đặc sắc. Tuy nhiên trên thế giới có quá ít người đề ra được một lý thuyết hoàn chỉnh về Mỹ học, Hegel lại là nhà tư tưởng lớn cho nên tác phẩm của ông ấy được đem giảng dạy ở tất cả khoa văn chương, nghệ thuật, kiến trúc. Vậy thôi.

  • Võ Tấn Phong MonsterID Icon Võ Tấn Phong

    Phan Ngọc dịch liều mạng tác phẩm của Hegel ở đây:

    http://www.talawas.org/talaDB/suche.php?res=36&rb=07

  • admin MonsterID Icon admin

    Tôi vừa theo đường link của Võ Tấn Phong đọc bình luận của PTH về bản dịch của Phan Ngọc. Hegel rắm rối nhưng vẫn logic, đến Phan Ngọc thì đúng là tẩu hỏa nhập ma. Thật tội nghiệp nếu bao nhiêu sinh viên phải học mĩ thuật của Hegel, qua bản dịch như thế.

Leave a Reply

You can use these HTML tags

<a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <s> <strike> <strong>

  

  

  

This blog is kept spam free by WP-SpamFree.