Một phản hồi về bài phản biện GS HNĐ

 

Edit 28/07/2012: Anh Hoàng Hải Phong gửi cho tôi thêm 1 bài viết ngắn và yêu cầu tôi tiếp tục cho lên blog, nên tôi đã cho vào tiếp phía dưới bài trước mà anh Phong gửi, gộp chung thành 1 entry

Một bạn đọc, anh Hoàng Hải Phong, gửi cho tôi bài phản hồi này về “công nghệ giáo dục” của Hồ Ngọc Đại. Theo yêu cầu của anh Phong, tôi copy nguyên bản lên đây (không có nghĩa là đồng ý với những điều viết trong bài).

————

Trao đổi lại bài viết của anh Nguyễn Tiến Dũng

về công nghệ giáo dục của Giáo sư Hồ Ngọc Đại – Phần 1

Trước hết, xin được tự giới thiệu, tôi là một bạn đọc của Tia Sáng đã từ lâu, hiện làm việc trong ngành công nghệ thông tin. Gần đây, đọc bài của anh Nguyễn Tiến Dũng về Công nghệ Giáo dục (CGD) của giáo sư Hồ Ngọc Đại trên Tia Sáng, lần qua đó mới ra blog của anh Dũng, với tư cách là một người có ít nhiều hiểu biết về CGD, tôi muốn thưa lại đôi lời.

Tôi đọc GS Hồ Ngọc Đại từ năm 2001, khi đã tốt nghiệp đại học và đi làm được vài ba năm, cho đến bây giờ tôi vẫn đọc ông. Nhưng điều tôi muốn nói trong bài viết này là, còn hơn cả đọc ông, tôi đã làm theo công nghệ giáo dục của ông và tôi cảm nhận được hiệu quả của nó từ chính những gì mình làm. Tôi sẽ giải thích dưới đây vì sao không phải là một người làm giáo dục nhưng tôi lại làm theo ông.

Có một thời gian vài năm công việc của tôi liên quan đến tư vấn chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực phát triển các hệ thống phần mềm của một hãng công nghệ thông tin lớn của Mỹ cho các doanh nghiệp Việt Nam. Mỗi hợp đồng chuyển giao công nghệ như vậy, các doanh nghiệp Việt Nam phải trả cho phía Mỹ ít nhất cũng trên 100.000 USD. Các doanh nghiệp Việt Nam mua công nghệ kỳ vọng rằng, sau khi nhận chuyển giao thì nhân viên của họ sẽ sử dụng thành thạo công nghệ này để phát triển các hệ thống thông tin của họ. Nhưng rất tiếc, hiệu quả chuyển giao luôn thấp. Vì sao? Vì nhân viên phía Việt Nam không hiểu tài liệu phía Mỹ đào tạo, mà không hiểu thì không sử dụng được công nghệ sẽ tiếp nhận. Là người Việt Nam, nên tôi tiếc số tiền mà phía các công ty Việt Nam chi ra để mua công nghệ mà hiệu quả sử dụng lại thấp. Từ thực tế đó, tôi đã suy nghĩ cách tăng hiệu quả chuyển giao công nghệ, tức là làm sao đó để các nhân viên phía Việt Nam thực hiện và hiểu được công nghệ mà họ sẽ sử dụng sau này. Và đó chính là lý do tôi đã sử dụng CGD để soạn lại những phần khó hiểu nhất của kiến thức thành các bài học và sử dụng những bài học do chính mình thiết kế để đào tạo phía đối tác Việt Nam.

Hiện nay tôi không làm công việc tư vấn kia nữa nhưng vẫn tiếp tục nghiên cứu CGD. Sau đây tôi trình bày những hiểu biết của tôi về CGD nương theo những gì mà anh Nguyễn Tiến Dũng (NTD) và ông Đỗ Kiên Cường (ĐKC) thắc mắc (lý do tôi trao đổi về nội dung của ông ĐKC cũng vì anh NTD viết cũng có những thắc mắc như vậy) . Nếu tôi sai chỗ nào thì đó là do tôi chưa hiểu CGD, chứ không phải lỗi của tác giả của nó là GS Hồ Ngọc Đại, bởi bài viết này cũng chỉ là CGD dưới góc nhìn của tôi.

Ngoài trải nghiệm đã thực sự có khi tự tay thiết kế các bài học theo cách của CGD và hướng dẫn học viên thi công các bài học ấy, tự tay đánh giá hiệu quả của các học viên sau khi đã học theo cách học của CGD so với cách học “thầy giảng giải – trò ghi nhớ”, thì toàn bộ hiểu biết về mặt lý thuyết của CGD của tôi là từ đây:

  1. Bộ sách tái bản năm 2010 của GS Hồ Ngọc Đại: http://www.xbook.com.vn/newsdetail.asp?NewsId=18999&CatId=245

  2. Cuốn “Hồ Ngọc Đại – Bài báo” xuất bản năm 2000.

  3. Cuốn “Vấn đề dậy văn” in đã lâu và đang được chuẩn bị tái bản.

  4. Các cuốn “Công nghệ dậy văn”, “Hợp lưu các dòng tâm lý học giáo dục” của tác giả Phạm Toàn, một trong số các cộng sự của GS Hồ Ngọc Đại.

Xin được nói trước rằng, hệ thống CGD hết sức phong phú nên tôi chỉ viết về những gì mình hiểu, những gì tôi không hiểu, hoặc hiểu không đến nơi đến chốn mà anh Dũng có nhắc tới thì tôi sẽ nói rõ là tôi không bàn đến.

VỀ A TRONG CÔNG THỨC Aa CỦA CGD

CGD dùng công thức A a (A lớn biến thành a nhỏ) để chỉ quá trình giáo dục, trong đó:

  • A: là các giá trị tinh thần của con người đã được đúc kết lại đến ngày nay và nằm bên ngoài người học (học sinh, sinh viên, học viên…).

  • a: là các giá trị tinh thần đã được đưa vào đầu người học.

  • : quy trình công nghệ biến A thành a.

Nhà triết học Hegel đã phân loại các giá trị tinh thần của con người thành ba lĩnh vực sau và GS Hồ Ngọc Đại đã sử dụng cách phân loại này để thiết kế CGD:

  • Khoa học

  • Nghệ thuật

  • Tôn giáo/Niềm tin

Khoa học tồn tại bằng khái niệm, vì vậy một khoa học, ví dụ vật lý lý thuyết chẳng hạn, là một hệ thống phát triển bao gồm các khái niệm có liên hệ hữu cơ với nhau, trong đó khái niệm nọ đẻ ra khái niệm kia. Khái niệm thì có thể chứng minh bằng thực chứng, thực nghiệm, có thể cảm nhận bằng cảm tính.

Nghệ thuật tồn tại bằng hình tượng, ví dụ hình tượng Kiều, hình tượng Chí Phèo… Trong nghệ thuật, khái niệm (hay tư tưởng nghệ thuật) chỉ là cái lõi bên trong. Không có khái niệm (hay tư tưởng) thì nghệ thuật còn thường lắm nhưng có khái niệm thì đã chắc gì có nghệ thuật. Tất cả những tác phẩm nghệ thuật lớn thì bao giờ cũng chuyển tải một tư tưởng nào đó (Truyện Kiều, bức tranh Guernica…). Vì vậy, khái niệm chỉ là cốt lõi của nghệ thuật, là điều kiện cần của nghệ thuật.

Tôn giáo tồn tại bằng đức tin, người theo tôn giáo chỉ cần có đức tin hay không mà thôi, có đức tin thì theo, không thì thôi. Còn đòi hỏi họ bằng chứng vì sao lại tin như vậy thì họ không thể có. Không phải ai cũng theo tôn giáo nào đó, do vậy không phải ai cũng có đức tin tôn giáo, nhưng những người này vẫn cần niềm tin để có thể sống một đời hạnh phúc. Người có đức tin hoặc niềm tin thì dễ có một đời sống tinh thần an lành, dễ hạnh phúc hơn so với người không có đức tin hoặc niềm tin.

Sau khi đã trình bày sơ bộ như trên, đến đây tôi nói về sự phân loại A của CGD:

1. Loại môn học phát triển tâm lý: Dựa trên ba lĩnh vực tinh thần được Hegel phân loại, CGD phân ra các loại môn học phát triển tâm lý như sau:

  • Các môn học về khoa học: toán học, vật lý, hóa học, ngôn ngữ…

  • Các môn học về nghệ thuật: văn học, hội họa, âm nhạc…

  • Các môn học về lối sống (thay cho dậy môn học đạo đức hiện nay).

2. Loại môn học phát triển thể chất: CGD cũng đã phát triển các nguyên tắc của môn giáo dục thể chất rất sớm, ngay từ những ngày đầu GS Hồ Ngọc Đại thành lập Trung tâm CGD.

Bây giờ, tôi trao đổi một số thắc mắc của ông ĐKC (cũng tức là của anh NTD).

  • Ông ĐKC viết: “Trong hoạt động nhận thức, phần tiếp nhận a của các chủ thế nhận thức đương nhiên khác nhau và khác với đối tượng nhận thức A. Tuy nhiên xem A chỉ là khoa học, nghệ thuật và niềm tin thì thật không ổn. Phải chăng CNGD đặt ra mục tiêu chỉ đào tạo nhà khoa học và giới nghệ sĩ?”.

Trao đổi lại:

CGD phân loại ra như vậy để có các cách thức giáo dục khác nhau đối với từng loại môn học, ví dụ cách giáo dục môn khoa học phải khác với cách giáo dục môn nghệ thuật, chứ lý do không phải là: “Phải chăng CNGD đặt ra mục tiêu chỉ đào tạo nhà khoa học và giới nghệ sĩ?”.

  • Ông ĐKC viết: “Và tại sao chỉ quan tâm tới niềm tin? Đâu rồi tính nhân bản, lòng tốt, đức hy sinh, tinh thần vượt khó và nhiều đặc trưng tinh thần khác của con người?”.

Trao đổi lại:

CGD coi niềm tin (đương nhiên là niềm tin vào những lẽ phải ở đời, ví dụ như niềm tin “ở hiền gặp lành”) là cái cốt lõi của một đời sống hạnh phúc, con người phải có niềm tin thì dựa trên đó mới có thể có “tính nhân bản, lòng tốt, đức hy sinh, tinh thần vượt khó và nhiều đặc trưng tinh thần khác”.

Không thể có ai đó mất niềm tin vào những lẽ phải ở đời mà vẫn có lòng tốt, đức hy sinh… được. Khủng hoảng xã hội cao nhất là khủng hoảng niềm tin và liệu có phải mọi khủng hoảng ở Việt Nam hiện nay, đặc biệt là khủng hoảng giáo dục, đều bắt nguồn từ chỗ người dân đã mất niềm tin vào những gì nhà nước Việt Nam hiện đang làm? Có lẽ thông cảm với các phụ huynh trước thực tế này, nên trong bài báo trả lời phỏng vấn về hiện tượng đạp đổ cổng trường Thực Nghiệm, GS Hồ Ngọc Đại đã nói rất phải chăng “người dân chọn trường Thực Nghiệm là chọn cái ít xấu hơn”.

  • Ông ĐKC viết: “Rồi các hoạt động thể chất, một phương thức phát triển cả thế chất và trí tuệ như những nghiên cứu mới đã chỉ ra, không có vai trò gì trong CNGD hay sao?”

Trao đổi lại:

Xin mời ông ĐKC xem từ trang 136, cuốn “Hồ Ngọc Đại – Bài báo” xuất bản năm 2000, GS Hồ Ngọc Đại đã bàn chi tiết về giáo dục thể chất của CGD.

HOẠT ĐỘNG CHỦ ĐẠO CỦA NGƯỜI HỌC KHI HỌC THEO CGD LÀ HỌC QUA VIỆC LÀM

Để biến A thành a, phương pháp giáo dục hiện nay dùng cách chủ đạo là “thầy giảng giải – trò gi nhớ”, còn CGD dùng cách chủ đạo là người học phải tự mình hoạt động thông qua một hệ thống việc làm đã được thầy giáo thiết kế. Xin nhấn mạnh rằng, trong quan điểm của CGD, thầy giáo không phải là một cá nhân mà là một phương pháp học thể hiện qua một bản thiết kế, thầy giáo bằng xương thịt đứng trên lớp chỉ là hướng dẫn viên có nhiệm vụ hướng dẫn người học làm việc theo bản thiết kế đã có. Còn bản thiết kế ấy thì do một nhóm chuyên gia được đào tạo bài bản nhất về CGD thiết kế ra.

Vậy, cơ sở nào để CGD sử dụng cách học thông qua một hệ thống việc làm? Cơ sở ấy là thành tựu tâm lý học (cụ thể là chuyên ngành Tâm lý học hoạt động) lớn nhất thế kỷ XX:

  • Hoạt động bên ngoài của con người (bằng tay làm, miệng nói…) và hoạt động bên trong (tâm lý) có cùng cấu trúc.

  • Hoạt động bên ngoài được tổ chức chặt chẽ thì sẽ chuyển thành các thay đổi mong muốn bên trong tâm lý.

Ở đây, xin thú thực rằng, do tôi không được đào tạo về tâm lý học, không có kiến thức nền tảng về tâm lý học, nên dù đã đọc đi, đọc lại những đoạn viết về tâm lý học hoạt động trong bộ sách trên của GS Hồ Ngọc Đại mà vẫn không hiểu kỹ được, nên tốt hơn hết là tôi không nói thêm gì nữa về tâm lý học của CGD. Về cơ sở tâm lý học của CGD tôi chỉ tóm tắt những hiểu biết của mình như trên mà thôi. Cần phải nói cho rõ rằng, GS Hồ Ngọc Đại nghiên cứu chuyên sâu về tâm lý học hoạt động, bằng TSKH của ông là bằng về tâm lý học.

Quá trình học là quá trình làm thay đổi tâm lý của người học từ chỗ chưa hiểu gì đến chỗ hiểu rõ một tri thức nào đó.

Giáo dục hiện nay sử dụng cách “thầy giảng giải – trò gi nhớ” để làm thay đổi tâm lý người học.

CGD sử dụng cách “thầy thiết kế – trò thi công” để làm thay đổi tâm lý người học.

Để hiểu kỹ về cách GS Hồ Ngọc Đại thiết kế hệ thống các việc làm dậy học sinh tiểu học khái niệm Phép toán, xin mời xem trong cuốn “Cái và Cách”, từ trang 127.

Ở đây tôi xin minh họa bằng chính một trong số các thiết kế của mình trong các khóa học chuyển giao công nghệ mà tôi đã đào tạo. Để cho đơn giản tôi minh họa bằng hệ thống việc làm dậy một khái niệm đơn giản nhất là khái niệm Thuật toán. Mong anh NTD kiên nhẫn đọc ví dụ này vì qua đó, tôi sẽ trao đổi thêm một số thắc mắc khác của anh.

Khái niệm thuật toán là thuộc các môn khoa học, cách dậy các môn này của CGD là xây dựng một chuỗi các khái niệm, sao cho khái niệm trước đẻ ra khái niệm sau, cuối cùng ta thu được khái niệm cần học (ở đây là khái niệm thuật toán). Mỗi khái niệm trong chuỗi đó lại được phân tích thành các thành phần cấu thành và mối quan hệ giữa các thành phần đó (CGD gọi là cấu trúc logic của khái niệm).

Khái niệm bắt đầu của chuỗi hình thành khái niệm thuật toán là khái niệm bài toán (GS Hồ Ngọc Đại hay lấy hình ảnh chuỗi hạt giống – mầm – chồi – cành – lá – nụ – hoa –quả của Hegel để minh họa cho chuỗi hình thành khái niệm cuối thông qua các khái niệm trung gian).

Bài học 1 – Khái niệm Bài toán

Việc 1. GV (giảng viên) phát biểu một bài toán bất kỳ, ví dụ bài toán giải phương trình bậc 2, sau đó phân tích thành mô hình sau:

Đầu vào

Đầu ra

GV điền vào mô hình trên đầu vào là các hệ số của phương trình bậc 2, đầu ra là nghiệm x1, x2.

Ghi chú: trong CGD mỗi ví dụ được gọi là một vật liệu, ở đây cho đỡ rối, tôi vẫn dùng những thuật ngữ thông thường.

Việc 2.GVđặt ra các ví dụ khác nhau từ dễ đến khó cho HV (học viên) tự tay mình phân tích thành mô hình như trên.

Ghi chú: Việc chọn các ví dụ này có thể nói chính là nghệ thuật của CGD, nên ông ĐKC nói giáo dục còn là một nghệ thuật cũng chẳng sai. Chỉ xin lưu ý, nghệ thuật muốn đúng là nghệ thuật thì vẫn phải lấy khái niệm (tư tưởng) làm cốt lõi.

Kiến thức rút ra từ Bài 1: Khái niệm Bài toán được mô hình hóa bằng mô hình gồm hai thành phần: đầu vào, đầu ra.

Bài học 2 – Khái niệm Thuật toán

Việc 1. GV lấy một ví dụ để mở rộng mô hình trong Bài 1 như sau:

 

Đầu vào

Các bước biến đổi đầu vào thành đầu ra

Đầu ra

 

GV mô tả các bước biến đổi đầu vào thành đầu ra trên mô hình.

Việc 2. GVđặt ra các ví dụ khác nhau từ dễ đến khó cho HV tự tay mình mô tả các bước biến đổi đầu vào thành đầu ra theo mô hình 3 thành phần trên.

Kiến thức rút ra từ Bài 2: Khái niệm Thuật toán được mô hình hóa bằng mô hình gồm ba thành phần: đầu vào, đầu ra, các bước biến đổi đầu vào thành đầu ra.

Bài học 3, 4, 5 – Khái niệm Cấu trúc tuần tự, Cấu trúc rẽ nhánh, Cấu trúc lặp

Trong 3 bài này, bằng các việc làm, GV hướng dẫn HV phân tích “các bước biến đổi đầu vào thành đầu ra” xem nó bao gồm những thành phần gì. Đó là các thành phần: Cấu trúc tuần tự, Cấu trúc rẽ nhánh, Cấu trúc lặp.

Kiến thức rút ra từ Bài 3, 4, 5: Khái niệm Thuật toán được mô hình hóa chi tiết hơn bằng mô hình gồm 5 thành phần như sau.

 

Đầu vào

Cấu trúc tuần tự

Đầu ra

Cấu trúc rẽ nhánh

Cấu trúc lặp

 

Bài học 6 – Khái niệm phép toán điều kiện

Bằng các việc làm, GV hướng dẫn HV phân tích tiếp các cấu trúc tuần tự, cấu trúc rẽ nhánh, cấu trúc lặp để cuối cùng chỉ còn mô hình sau.

 

Đầu vào

Cấu trúc tuần tự

Đầu ra

Phép toán điều kiện

 

Kiến thức rút ra từ Bài 6: Khái niệm Thuật toán được mô hình hóa bằng mô hình gồm 4 thành phần đã tinh chế như trên và việc phân tích dừng lại ở đây, do các thành phần trên là không thể phân nhỏ ra được nữa. Qua sự quan hệ lẫn nhau giữa hai thành phần cấu trúc tuần tự và phép toán điều kiện mà ta thu lại được khi thì cấu trúc rẽ nhánh, khi thì cấu trúc lặp.

Trao đổi tiếp các thắc mắc:

  • Anh NTD viết: “Từ đơn giản đến phức tạp” thì đúng quá rồi, vì phải có các yếu tố đơn giản mới hợp lại thành phức tạp được. Nhưng tại sao lại “từ trừu tượng đến cụ thể, từ chung đến riêng” ?! Theo tôi thì  ngược lại mới đúng, tức là phải đi từ riêng đến chung, đi từ cụ thể đến trừu tượng, mới là quá trình học tự nhiên. Nhiều khi “khái niệm trừu tượng” chỉ là cái vỏ, có hay không không quan trọng bằng cái ruột bên trong ra sao. Khi có “ruột” rồi mới cần “vỏ” để “đóng gói” lại cho “ngăn nắp” chứ toàn vỏ không mà rỗng ruột thì chẳng để làm gì.”

Trao đổi lại.

Ở đây có mấy ý cần nói. Nội dung các từ “trừu tượng”, “cụ thể” mà CGD dùng khác với nội dung đa số mọi người vẫn dùng. Và theo tôi, mọi sự hiểu lầm ý của cụm từ “từ trừu tượng đến cụ thể” của GS Hồ Ngọc Đại đều từ đó mà ra. Tôi đã hỏi nhiều người rằng họ hiểu “trừu tượng” và “cụ thể” là gì. Hầu hết đều cho rằng “trừu tượng” là cái gì đó trong tinh thần, không sờ vào được, “cụ thể” là cái gì đó có thể sờ được, cảm nhận được. Không biết anh Dũng có hiểu thế không?

Nhưng “trừu tượng” và “cụ thể” mà GS Hồ Ngọc Đại dùng là theo nghĩa của triết học Hegel. Theo nghĩa đó thì trứng vừa thụ thai xong chính là một đứa trẻ trừu tượng, nó sẽ phát triển thành một đứa trẻ cụ thể; bài toán là một thuật toán trừu tượng vì từ đó sẽ phát triển thành một thuật toán cụ thể; điểm năng lượng trước vụ nổ Big Bang chính là vũ trụ trừu tượng. Nghĩa là trong chuỗi các khái niệm đã nói ở trên thì khái niệm xuất phát là trừu tượng nhất, kề ngay sau nó khái niệm thứ hai là cụ thể hơn nhưng trừu tượng hơn khái niệm thứ ba, …, khái niệm cuối cùng là cụ thể nhất. Theo cách hiểu này thì một cái gì đó dù là sờ vào được vẫn cứ trừu tượng (và không nhất thiết cái trừu tượng là cái ở trong tinh thần) nếu:

  • Ta chưa hiểu nó bao gồm những thành phần gì và quan hệ giữa các thành phần đó ra sao.

  • Ta chưa biết nó phát triển từ đâu.

Nhưng một cái gì đó dù không sờ vào được thì vẫn cứ cụ thể, ví dụ như Mặt trời, vì:

  • Đến nay, vật lý học đã hiểu Mặt Trời được cấu tạo từ những thành phần gì và quan hệ giữa các thành phần đó (nếu không hiểu quan hệ đó thì không giải thích được nguồn nhiệt năng của Mặt Trời).

  • Vật lý học cũng đã biết nguồn gốc của Mặt Trời, Mặt trời phát triển từ đâu và khi nào nó chết.

Đọc đến đây, anh NTD có thể hiểu vì sao GS Hồ Ngọc Đại lại nói “từ trừu tượng đến cụ thể”.

Viết đến đây đã dài quá, tôi sẽ viết tiếp các thắc mắc khác của anh Dũng trong các phần sau.

Hoàng Hải Phong, Hà Nội 26/7/2012

————-

28/07/2012

Từ trừu tượng đến cụ thể dưới góc nhìn

của một người sản xuất

Hoàng Hải Phong

Tôi đã viết tiếp phần 2 cho entry phần 1 này: “Trao đổi lại bài viết của anh Nguyễn Tiến Dũng về công nghệ giáo dục của Giáo sư Hồ Ngọc Đại”, nhưng theo dõi diễn biến của cuộc trao đổi, tôi nghĩ nó ngày càng dễ sa vào tư biện, mà các vị học vấn cao là dễ sa vào đó lắm, nhất là khi lại có một vị rất có uy tín xã hội là GS Nguyễn Minh Thuyết tham dự. Đương nhiên là GS Thuyết không biết tôi, nhưng tôi có biết chút ít về mối quan hệ của ông với CGD, với cá nhân GS Đại, tôi cũng biết sự tham gia của ông vào chương trình CT-2000, chương trình đã góp phần dẫn đến tình trạng giáo dục hiện nay (xem ở đây có nhắc đến CT-2000: http://vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/tuanvietnam/72341/dieu-gi-dang-xay-ra-sau-canh-cong-truong-thuc-nghiem-.html). Vì vậy, tôi không gửi phần 2 của entry trên nữa, nó dễ góp phần làm tăng tính tư biện của cuộc trao đổi lắm. Tôi viết entry này nói về chuyện làm ăn, chuyện những người đang sản xuất cần gì ở những người làm giáo dục.

Học để làm gì?

Trong suy nghĩ của tôi, học là để làm việc. Ai đó có thể phản đối tôi và cho rằng, học là để biết, học để chung sống, học để làm người… Nhưng tất cả những cái ‘học để…” ấy đều là hệ quả của học để làm việc. Vì sao? Vì người ta, trước hết, đều cần phải sống, mà muốn sống trong xã hội hiện đại thì cần phải học để làm một cái nghề cung cấp cho xã hội một sản phẩm hay dịch vụ gì đó, từ đó mà có tiền, có tiền thì mới sống được, sống được rồi thì những cái học về nghệ thuật, thơ ca, nhạc họa, học để chung sống, … mới có nghĩa. Chứ đói khổ, hoặc cả ngày lo nghĩ đến cái ăn, đến sự tồn tại thì những cái trên thành ra đồ xa xỉ. Cho nên điều tiên quyết của việc học phải là học để làm việc hiệu quả, làm một cách thông minh để giá trị làm ra vượt xa nhu cầu của cái ăn (làm ra 1000 đồng thì chỉ cần chi 100 đồng cho cái ăn chẳng hạn).

Có người học ra làm kỹ thuật viên.

Có người học ra làm công việc thiết kế, quản lý.

Có người học ra làm công việc nghiên cứu.

Học gì cuối cùng chả để làm nghề gì đó, từ anh kỹ thuật viên cho đến anh tiến sỹ.

Nhưng trong xã hội hiện đại, làm nghề gì mà chẳng cần một kiến thức phổ thông, và đó là lý do tồn tại bậc học phổ thông. Ở bậc học phổ thông, các bác bên giáo dục cứ dậy đủ thứ về cái đẹp, về nghệ thuật, về khoa học đi, cứ dậy thoải mái đi… nhưng xin đừng quên dậy học sinh cách tư duy.

Học như thế nào thì biết cách tư duy?

Tôi vẫn hay nói với các đồng nghiệp của mình rằng: bằng chứng tốt nhất về việc bạn có tư duy về một vật nào đó là hoặc bạn sử dụng được vật đó, hoặc bạn làm ra được vật đó.

Bạn có tư duy về công nghệ X nào đó thì có nghĩa bạn biết cách sử dụng công nghệ X để làm ra sản phẩm Y nào đó. (Như vậy, ở đây thay vì nói bạn có tư duy về công nghệ X thì có thể nói bạn có tư duy về sản phẩm Y, từ đó bạn biết dùng công nghệ X như một công cụ để làm ra Y).

Hay cao cấp hơn, bạn làm ra được công nghệ X kia. Trong trường hợp này thì công nghệ X đóng vai trò một sản phẩm, như sản phẩm Y phía trên.

Từ đó, có thể tóm gọn lại là, bằng chứng bạn có tư duy về một vật là bạn phải làm ra được vật đó.

Làm ra một cái cây (tức trồng cây) thì ai cũng biết phải bắt đầu từ hạt giống của nó: trước hết phải gieo hạt và chăm sóc cho nó nẩy mầm đã. Rồi sau đó mới lo đến chăm sóc chồi, cành, lá, nụ, hoa, quả.

Làm ra sản phẩm gì cũng vậy, luôn phải bắt đầu từ “cái mầm” của nó.

Ví dụ, làm ra phần mềm quản lý thị trường chứng khoán thì phải biết nội dung bài toán quản lý thị trường chứng khoán là gì, phạm vi của bài toán là gì, những ai quan tâm đến bài toán… Bài toán đóng vai trò “cái mầm” của phần mềm quản lý.

Dậy cho người học biết làm việc như trên thì tức là dậy cho người ta biết tư duy.

Cái mầm” chính là “cái cây” còn dưới dạng trừu tượng, “cái chồi” là “cái cây” bớt trừu tượng hơn, tiến về phía cụ thể hơn.

Tư duy như vậy là tư duy “từ trừu tượng đến cụ thể”.

Dậy cho người học tư duy như trên là dậy cho người ta cách để làm việc thông minh sau này.

Tôi ủng hộ GS Hồ Ngọc Đại là ủng hộ từ góc độ một người sản xuất. Người sản xuất nào mà chẳng bắt đầu quá trình sản xuất của mình từ một bản thiết kế sản phẩm – chính là sản phẩm còn dưới dạng trừu tượng.

Mà đất nước chúng ta thì đang phải lo ăn từng bữa, nên phải tìm cách làm việc thông minh hơn để sau này người Việt Nam có thể nghĩ đến nhạc cổ điển, đến thơ ca, đến nghệ thuật…

Muốn làm thông minh hơn thì phải biết cách tư duy – dậy cho con em Việt Nam biết cách tư duy chính là công việc của các bác bên giáo dục đấy.

Cảm ơn chủ blog đã cho đăng entry này.

Print Friendly
 

31 comments to Một phản hồi về bài phản biện GS HNĐ

  • 6810 MonsterID Icon 6810

    Theo tôi dạy học là phải GIÚP cho người học phát hiện ra khả năng tiềm ẩn của họ và giúp họ phát triển khả năng đó. Muốn dạy được có hiệu quả thì phải mở tấm lòng để hiểu học trò.

    Học và dạy học nên là một giải trí cao cấp.

Leave a Reply

  

  

  

You can use these HTML tags

<a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <strike> <strong>

Spam Protection by WP-SpamFree