Một phản hồi khác về bài phản biện GS Hồ Ngọc Đại

 

Bài nay do TQ Nam, một bạn đọc, gửi đến zetamu ngày hôm nay (31/07/2012), tôi đăng lại nguyên văn. (Những bài của các tác giả khác đăng trên zetamu không có nghĩa là tôi đồng tình với các ý kiến của các tác giả đó).

Đọc loạt bài sáu phần của tiến sỹ Nguyễn Tiến Dũng (NTD) thật thú vị vì vậy tôi đã tìm đến blog của ông để tìm hiểu thêm thì lại đọc thêm được các bài khác có liên quan cùng các ý kiến trao đổi khác. Cảm giác chung của tôi là được chia sẽ và học hỏi thêm nhiều điều. Tuy nhiên tôi cũng có những điều muốn trao đổi thêm với các tác giả, có những cái tôi đồng tình, cái thì tiếc vì vấn đề chưa được lý giải đúng mức. Trước khi bàn cụ thể tôi xin thưa thật là những lĩnh vực bàn bên dười thì tôi là “kẻ ngoại đạo”, tức không hề được học hành từ một trường lớp nào về giáo dục, sư phạm, tâm lý, v.v. chẳng qua câu chuyện là thiết thân và kinh nghiệm từ bản thân. Tôi không hài lòng về nên giáo dục mà mình thụ hưởng nên khi chuẩn bị có con tôi buộc phải tìm hiểu về những gì cần để dạy con mình. Từ những tri nhận có được tôi thực hành giáo dưởng con mình, có thành công, có thất bại, đương nhiên. Kinh nghiệm của tôi là còn từ việc con gái tôi tình cờ vào học một trường dạy theo theo chương trình Công nghệ giáo dục (CNGD) hồi đầu thập niên 1990. Vì thế những gì được viết ra đây là nhằm trao đổi chia sẽ mà thôi, và chính vì vậy tôi sẽ không dẫn ra các cơ sở lý luận hay trích dẫn sách vở, một đòi hỏi nhiều hơn là quá sức tôi, tôi chỉ viết ra những gì có sẳn trong đầu.

Trước tiên là đồng tình. Tác giả NTD hoàn toàn có lý khi phê phán (xin đừng đặt dấu = giữa phê phán với chê bai) ông Hồ Ngọc Đại (HNĐ) là rơi từ thái cực nầy sang thái cực đối lập. Phàm ở đời chuyện nầy thì cũng người ta thường tình, nhưng trong khoa học được sao? Một trong những bất ngờ lớn nhất của tôi với ông HNĐ là ông được đào tạo chuyên nghành tâm lý học nhưng ông lại có những chủ trương rất khác với những gì tôi biết về tâm lý học lứa tuổi , tâm lý học giáo dục cũng như quan sát cá nhân. Rõ ràng là khi đoạn tuyêt với “sự bắt chước” là một sai lẩm lớn trong cơ sở lý luận của CNGD: nó trái nghịch với thực tiển dạy-học để biến một đứa trẻ từ thể sinh học sang thể con-người-xã-hội. Với tôi, để dạy một đứa trẻ, cách tốt nhất là ta quan sát đứa trẻ đã học một các tự nhiên ra sao. Ngoại trừ các hoạt động bản năng sinh vật, học trước tiên là hoàn toàn bắt chước mà không cần ý thức (tức nhận biết hoạt động của mình là gì, đối tượng nhắm tới là gì, hoạt động nầy có ý nghĩa gì, v.v.). Ngay từ học nói, trẻ cũng không cần biết tới cái “tam giác ngữ nghĩa” của từ cũng như bản thân từ là gì. Ta đưa cho trẻ một vật rồi nói “ca” rồi ra bộ dạng khuyến khích trẻ nói, nó sẽ cố gắng bậc ra tiếng “ca” chứ không biết tới đối tượng cái ca, cái vỏ âm thanh của từ [ca] cũng như ý niệm về cái ca với các nghĩa và ý nghĩa của từ “ca”. Không, hoàn toàn không! Sự việc lập đi lập lại nhiều lần não trẻ sẽ tự động lập nên mối liên hệ mà ngôn ngữ học gọi là “tam giác ngữ nghĩa” và sự tạo lập nầy cũng nằm ngoài ý thức của trẻ (trẻ đã thực sự có ý thức đâu?). Vậy đây là cái gì nếu không phải là bắt chước? Thậm chí ngay cả khi đã lớn, đã thành niên thì trong dạy thực hành chẳng ở đâu người ta lại không có cái gọi là “thị phạm”! Ta cũng có một quan sát thế nầy, đứng trước một vật thể và khi ta gọi đó là “xe hơi” (hay xe con, xe ô tô) thì trẻ sẽ gọi vật thể đó là “xe hơi”(hay xe con, xe ô tô) ngay, còn khi ta gọi vật thể đó là “a car” (hay “la voiture”, “avtomobil” thì trẻ cũng sẽ gọi vật thể đó là “a car” (hay “la voiture”, “avtomobil” ngay). Đó là gì nếu không là bắt chước? Tôi có biết một cặp vợ chồng nguồi Đức từng làm việc tại tp HCM, con gái họ dù mới hơn 3 tuổi nhưng nói được 2 thứ tiếng Đức và Anh và hiểu nhiều tiếng Việt, đơn giản là ở nhà đôi vợ chồng nầy thường trò chuyện bằng cả 2 thứ tiếng Đức và Anh, cô giúp việc kiêm bảo mẫu người Việt biết tiếng Anh (bồi).Tôi đồng ý với ông NTD khi nói về chuyện ông học ngoại ngữ. Theo tôi việc học một ngôn ngữ trước hết bao giờ cũng phải là bắt chước, học ngữ pháp hay cú pháp là cái về sau. Và đó là lý do có các phương páp học theo tình huống, học có phản xạ. Ta có thể nói “thoạt đầu học phi bất chước bất thành học” vậy. Khi cháu bé nhà tôi đem cuốn sách học tiếng Việt đầu tiên của nó về, tôi lật xem và hoảng hồn thật sự khi thấy các khái niệm âm vị học trong đó. Trời ạ! Đừng nói là đứa trẻ lên sáu, liệu có mấy người lớn biết có những khái niệm nầy tồn tại trên đời, đó là chưa nói tới hiểu và hiểu đủ để dạy trẻ ở nhà? May mắn là tôi hiểu và rất chật vật để lượt bớt đi tính trừu tượng (đến vô nghĩa đối với trẻ) và giảng cho cháu nhà theo lứa tuổi để tạm vượt qua bài học (giờ nhớ lại vẫn còn đổ mồ hôi hột). Sự nghịch với hiểu biết thông thường của tôi về tâm lý học lứa tuổi và giáo học pháp (metodica) là vậy.

Tôi bổ xung thêm một ý nhỏ về dạy toán cao cấp cho trẻ cấp một. Đây là một thụt lùi rất lớn của ông HNĐ. Thập niên 1960 nhiều nước cũng đua nhau dạy tân toán học cho học sinh cấp 2. Ví dụ như lớp 6 đầu cấp 2 chương trình của Pháp chỉ dạy tân toán học với các khái niệm tập hợp, ánh xạ, v.v. Nhưng rồi sao đó tất cả đều từ bỏ dạy tân toán học cho học sinh cấp hai mà quay về chương trình toán cũ. Điều nầy thì trên tạp chí Tia sáng từng có bài viết, và những ai học chương trình Pháp tại Sài Gòn trước 1975 đều biết.

Vậy do đâu mà có sự đoạn tuyệt với “bắt chước” nầy trong CNGD-HNĐ? Có lẽ là từ thái độ cực đoan mà ông HNĐ đã lẫn lộn giữa bắt chước với các dạy “thầy đọc trò chép”. Việc bắt chước nầy không chỉ diễn ra trong giai đoạn đầu của việc học tiếng mà còn ở hầu hết các môn học khác, tức từ việc học kẻ để tập viết cho đến học toán, học vẽ, làm thủ công v.v. thậm chí thầy cô không chì làm mẫu mà đôi khi còn phải cầm tay trẻ nữa. Cái sự “thầy đọc trò chép” trong giáo dục ngày nay có rất nhiều nguyên nhân: thẩy dở, thầy lười, chương trình nặng nên thiếu thời gian, học lệch, v.v. Bắt chước là một dạng tạo sự phản xạ có điều kiện, “thầy đọc trò chép” không là học mà chỉ là nhồi nhét, là “nhai lại”, là đối phó, là bế tắc của một nền giáo dục lạc hậu và đầy sai lầm.

Việc chủ trương không thi đua đúng là một cực đoan nữa, và cũng là một điều nghịch tâm lý học nữa ở CNGD. Nếu ông HNĐ phản đối việc sỹ nhục trẻ là đúng, tôi hoàn toàn đồng ý. Với tôi, việc sỹ nhục trẻ là cách tốt nhất để giết sự tự tin nơi trẻ, một đứa trẻ lớn lên mà không có sự tự tin thì nó có thể làm được gì? Và tôi cũng chống việc so sánh trẻ nầy với trẻ khác trước mặt nó, đừng tưởng rằng đây là một cách “khích tướng”, khích tướng có giá trị không cao lắm đâu vì không thể dùng với bất cứ ai, trong bất cứ trường hợp nào, đó là một “nghệ thuật dùng người”. Sự khích tướng rất dễ bị phản tác dụng, nhất là với đứa trẻ, con-người- chưa-trưởng-thành về hành vi, nhân cách, nhận thức. Như sỹ nhục, việc so sánh cũng làm trẻ mất tự tin, gây ghen ghét với trẻ được đem ra so sánh, trẻ dễ bị tự kỷ. Tôi có một kinh nghiệm như vầy, không bao giờ tôi lớn tiếng với con mình, nhất là trước mặt một người thứ ba dù đó là mẹ hay bà của cháu. Khi cần thì hai cha con vào phòng riêng nói chuyện với nhau, tôi nhỏ nhẹ phân tích, khuyên bảo và tôi cho phép cháu lên tiếng giải thích, lý giải sự việc (tức gần như là tự biện). Kết quả là cho đến nay những lời tình lý rõ ràng là cháu nghe ngay, không cải bướng, không “bịt tai”, không chối lỗi. Tôi cũng không bao giờ tâng bốc con mình trước với người khác. Nhưng tôi luôn công nhận những gì cháu làm tốt, làm đúng, những khi đó tôi nói chắc gọn, như “Con làm đúng, làm tốt, ba khen”, hay “Tốt đó con, ba chúc mừng”, hay “Được đó con, cứ vậy làm làm, hén”, v.v. Cũng có những lúc tôi lại nói “Con thấy xyz ra sao? Đâu, con cố gắng làm thử ba xem. Ba nghĩ con của ba được đó, chịu khó một chút thôi mà.” Nếu ta quan niệm thi đua có mục đích tự thân, thi đau là lủa dối thì là sai. Nếu ta quan niệm thi đua là đặt ra những mục tiêu cụ thể, phù hợp cần vươn tới trên con đường tự hoàn thiện, là nhầm vượt quan giới hạn hiện nay để rồi chấp nhận thử thách với giới hạn mới thì có gì sai trong giáo dục?

Với tôi, thi cử trước hết là một công cụ đo lường kết quả quá trình dạy và học. Không chấm điểm và thi cử thì lấy gì đo lường? Cái sai lớn nhất của thi cử hiện nay là trên thực tế biến nó thành cứu cánh (tôi nhấn mạnh) của quá trình dạy và học, của cả nền giáo dục, của cả xã hội. Kết quả là sự thi cử đã biến dạng hoàn toàn, không còn nhận ra được nó nữa. Tuy nhiên, khi phê phán thì ông NTD lại đưa ra một so sánh quá kiên cường, không xứng, thậm chí còn gây hiều làm. Đồng tiền sạch là một động lực tốt cho con người, thi cử cũng là một động lực tốt cho thầy và trò. Thế nhưng cách viết ở phần mở đầu cho sự so sánh của tác giải dễ gây lầm tường ông quan niệm thi cử là động lực chính của quá trình dạy và học.

Bản thân thi đua không có gì phải sơ, cái đáng sợ là các “phong trào”.

Về việc bậc trung học nên là bao nhiêu năm và nên chia thành mấy cấp thì theo chổ tôi biết nhu vầy:

Đại đa số các nước chọn chương trình 12 năm là sau khi học xong phổ thông học sinh tròn 18 tuổi, đây là độ tuổi đủ chín mùi để bước ra đời, tự lập. Cái tuổi 18 được nghành tâm lý học xem là con Người đã đủ nhận thức về bản thân cũng như cuộc sống nên đủ để chịu trách nhiệm với chính mình và xã hội. Đây là độ tuổi trưởng thành về nhân cách và đó cũng là lý do về pháp lý người ta cho công dân hưởng trọn các quyền về nhân thân, hưởng và nhận đầy đủ quyền lợi cùng trách nhiệm công dân. Sau 12 năm học, học sinh được trang bị các kiến thức căn bản sẽ bước vào đời làm Công dân với đầy đủ giá trị, ý nghĩa của nó. Cho đời ra sớm hơn là chính vú ép rồi. Trễ hơn một chút cũng không sao, ví dụ Pháp chọn chương trình trung học 13 năm, tức sau 12 năm học thì tiếp tục học thêm lớp terminal mới thi BAC (Tú tài). Ông NTD lý giải với các khía cạnh khác về xã hội và kinh tế, tôi xin bổ xung về mặt tâm lý học. Riêng khía cạnh kinh tế, tôi xin thêm một điểm nhỏ là chương trình 12 năm là giúp xã hội tạo độ trễ, kéo giản sức ép về cung trên thị trường lao động.

Đại đa số các nước chia bậc trung học thành 3 cấp lả cũng dựa trên cơ sở tâm lý học, cụ thể là tâm lý học lúc tuổi. Nếu dưới 6 tuổi trẻ chơi là hoạt động chính để khám phá bản thân, khám phá thế giới, cuộc sống thì từ 6 tuổi trẻ cần phải học và học là dần trở thành hoạt động chính của trẻ, chơi dần lùi về vị trí thứ 2 trong việc khám phá bản thân, khám phá thế giới,khám phá cuộc sống của trẻ. Bước vào trường học trẻ cần được rèn luyện các hoạt động tư duy mà ghi nhớ là đầu tiên. Vậy là ở cấp 1 người ta chú trọng cho trẻ học thuộc lòng. Các hành vi ghi nhớ lúa tuổi nầy giúp não trẻ làm quen dần với các hoạt động tư duy, tức bước đi lớn có ý thức của chủ thể để trẻ thoát hản con người sinh học thành con-người-xã-hội, tức con người có tình cảm và biết tư duy. Sau khi tập luyện ghi nhớ thành thục thì trẻ sẽ làm quen dần với các hoạt động tư duy bậc cao hơn, tức tập phân tích. Và trẻ bước vào cấp 2. Ở cấp nầy viẹc học thuộc lòng giàm dần, việc tập phân tích dần được nâng cao, hình thức đa dạng hơn. Và đó là lý do vì sao ở cấp 2 người chia phân môn rõ rệt, mỗi môn học do một giáo viên được đào tạo “chuyên nghành” phụ trách sự giảng dạy. Lên đến cấp 3 thì hoạt động tư duy – phân tích là rèn luyện trọng tâm bắt buộc, việc học thuộc lòng giảm đến tối thiểu, chỉ thuộc lòng những gì phải nhớ nguyên văn, như công thức, định lý, bài/đoạn thơ, v.v. chứ không hề cần thuộc lòng toàn bộ nguyên nhân,diễn biến, ý nghĩa cùng các số liệu của một sự kiện lịch sử (ngu xuẩn!). Một yêu cầu cao hơn ở cấp 3 là học sinh làm quen dần với tư duy tổng hợp, tức học sinh phải biết xâu chuổi các kiến thức học rải các ở các bài, các phần khác nhau để rút ra cái chung và đưa ra các nhận định, đánh giá cá nhân. Rõ ràng với yâu cầu như vậy, việc học thuộc lòng cả cuốn sách, cả cuốn tập chép lời thầy đọc, khi thi hay kiểm tra không được viết sai một dấu câu so với “kinh” trở nên “vô duyên” với sư phạm.

Ta cần lưu ý yêu cầu rèn luyện tư duy rất khác của cấp 1 và cấp 3, yêu cầu nầy lại rất gần giữa cấp 2 và cấp 3. Còn nhớ, năm 1980, sau một thời gian đi xa, tôi về thăm thầy cũ. Ông “thông báo” tôi hay là xứ mình vừa tiến hành cải cách giáo dục, theo đó người ta ghép cấp 2 vào chung nhóm với cấp 1. Ông lắc đầu cười và bình luận “Tầm bậy!”. Sau đó mấy năm, trong một chương trình thường nhật trên Đài tiếng nói VN về giáo dục, một vị chuyên gia lý giải sự việc là sau 9 năm học, học sinh được trang bị kiến thức cơ bản có thể học tiếp lên cấp 3 nếu học tốt hay ra học nghề nếu học kém!

Tôi không có điều kiện, và nhất là không đủ trình độ thẫm định toàn bộ CNGD của ông HND, song quả thật lý luận của công nghệ nầy khó hiểu quá. Đến giờ tôi vẫn chưa “ngộ” được công thức A – a là gì. Rồi còn nhiều khái niệm khác nữa. Đôi lúc tôi thấy CNGD không phài là sư phạm mà là Mề-ca-ních (mechanic). Đôi lúc tôi lo nếu CNGD được áp dụng rộng rãi thì liệu mai nầy học sinh chúng ta ra đời là những con ong thợ?

***

Nhìn lại ta thấy mấy chục năm ròng chương trình CNGD như đứa con ngoài giá thú của bộ GD, ai thích dạy thì dạy, ai thích học thì học, không thì thôi, bộ không cần biết hiệu quả ra sao. Rồi một ngày nọ, bộ nói “Thôi nhé!”. Vị cha đẻ của CNGD khi đó chắc chỉ biết ngậm ngùi? Mà thật ra chuyện nầy xảy ra có lẽ lỗi ở ông HNĐ không nhò. Với một chương trình và phương pháp dạy-học tiến bộ (như ông tin) nhưng ông làm thật ít để xã hội biết, nhất là biết hiệu quả nó ra sao trong giáo dục rồi chấp nhận nó trên bình diện rộng. Ngay cả với bộ GD ông cũng chưa thuyết phục như cần thiết về hiệu quả giáo dục từ chương trình CNGD của mình, hình như ông không tự làm hay cùng bộ GD tiến hành tổng kết khoa học sau 10-15-20 thực nghiệm? Nhất là ông có giải pháp nào giải quyết độ vênh chuẩn kiến thức giữa học sinh theo học chương trình thường và chương trình CNGD?

Đợt cải cách “lớn” với Chương trình năm 2000 coi như khai tử không kèn trống chương trình CNGD của ông HND trong hệ thống trường chính thức của bộ GD-ĐT. Dù rất tiếc cho chương trình có nhiều cái hay nầy nhưng tôi cũng đành phải buộc miệng “Phải thôi!”. Khi nói rất tiếc không phải tôi chơi trò “đánh cho đã rồi khen cho nó mặt trận”, tôi thật lòng. Tôi từng định cho đứa con thứ hai của mình vào học trường thực nghiệm, nhưng vì không thể “sáng đưa, trưa rước” nên đành chịu. Bên cạnh những sợ hãi “khái niệm ngữ âm học” thì chỉ riêng việc chỉ học một buổi cũng đáng cho ta suy nghĩ và cân nhắc giá trị của CNGD.

Báo Tia sáng mạng vừa có bài phỏng vấn GS Sergei Kapitsa của phóng viên Báo Nước Nga, ông có nói chuyện khoa học nước Nga mà tôi cho là cũng đúng cho khoa học nước ta:

Đấy là điều thường thấy ở những xã hội khủng hoảng: mỗi người bắt đầu đấu tranh vì sự tồn tại của mình mà bỏ quên nhiệm vụ và mục tiêu chung. Còn các nhóm hay các phái thì thời nào cũng có-đó là bản chất con người.

Số phận khoa học của đất nước ta rất cần sự đối thoại có tính xây dựng giữa của các nhà khoa học với chính phủ và giới kinh doanh cũng như với các tầng lớp xã hội rộng rãi.”

Tôi cũng nhớ là trong cuốn “Đối thoại với đời và với thơ” nhà thơ Lê đạt có bài viết rất hay về Cái khác, Sự Khác Biệt

Cho đến bao giờ?

Để kết thúc bài viết tôi xin ghi lại 2 câu nói của A. Einstein:

Trong khoa học trí tưởng tượng quan trong hơn tri thức. (Nhờ từ một cuốc sách của GS Trần Kim Thạch xb trước 1975 tại Sài Gòn)

Hãy đánh thức tâm hồn để thế giới đưa cái đẹp vào cư ngụ. (Ghi lại từ một bài trên báo Tuổi trẻ, ngày 29.07.2012)

TQNam

Print Friendly
 

8 comments to Một phản hồi khác về bài phản biện GS Hồ Ngọc Đại

  • admin MonsterID Icon admin

    Cảm ơn anh TQ Nam đã gửi đến bài này.

    Về hệ phổ thông ở Pháp hiện tại, tôi có thể đính chính là nó cũng có 12 năm (nếu không kể mẫu giáo — école maternelle, chứ không phải 13 năm), và cũng đi học từ 6 đến 18 tuổi. (Ở Pháp người ta tính tuổi hơi khác kiểu ở VN, phải đủ ngày đủ tháng thì mới lên tuổi, nên khi tiếng Việt là 18 tuổi, thì tiếng Pháp là 17 hay 18 tuổi tùy theo ngày sinh, và do đó người ta viết là học cho đến lúc 17-18 tuổi).

    Vì những lý do lịch sử nào đó mà đến giờ tôi vẫn chưa rõ, các lớp phổ thông ở Pháp được gọi tên theo một cách rất phức tạp:

    Tiểu học gọi là école primaire, gồm 5 lớp:

    CP (cours préparatoire)
    CE1 (cours élémentaire 1)
    CE2
    CM1 (cours moyen 1)
    CM2

    Trung học cơ sở (cấp 2) gọi là collège, gồm 4 lớp:
    6-ème
    5-ème
    4-ème
    3-ème

    tức là người ta đếm ngược, lớp càng cao thì số càng nhỏ, ví dụ “lớp thứ 3″ thì tương đương lớp 9 của VN.

    Cấp 3 gọi là lycée, gồm 3 lớp:
    2-nde
    1-ère
    términale (lớp cuối)

  • admin MonsterID Icon admin

    Về mặt logic, thì biến môn tiếng Việt thành môn “ngữ âm học” là phản sư phạm và sai mục đích. Ví dụ anh TQ Nam kể cũng là một ví dụ thực tế chứng tỏ điều đó (con 6 tuổi đi học tiếng Việt, mà về bố phải đánh vật giải thích cho con hiểu các thứ người ta dậy ở lớp).

    Điều làm tôi thắc mắc là, GS Đại làm thế nào mà lại quyến rũ được các trường miền núi học theo cái “tiếng Việt 1 CNGD” này. Và đo đạc kiểu gì để mà kết luận là học sinh miền núi học nó tốt hơn là học chương trình “cổ hủ” ?!

    Để biết xem HS có nắm được kiến thức không, thì phải làm kiểm tra. Tất nhiên, nếu kiểm tra theo kiểu “đặt chữ vào ô” (một công đoạn hình thức trong phân tích ngữ âm) thì các học trò 6 tuổi sau khi được “đặt chữ vào ô” nhiều lần sẽ bắt chước được như cái máy, mà không cần hiểu các chữ đó có nghĩa gì hết, và cũng không cần hiểu tại sao phải tách chữ ra vào các ô thế để làm gì. Có thể không hiểu tý gì mình đọc cái gì, nhưng vẫn xếp chữ vào ô rất đúng !

  • bích phượng MonsterID Icon bích phượng

    Trong số chúng ta ở đây thì anh TQ Nam, tác giả bài viết này có lẽ là nhân chứng quan trọng nhất của CNGD. Vậy xin phép hỏi anh Nam 3 câu hỏi:

    1- Về văn chương, lịch sử, nghệ thuật (nói chung là các môn KHXH), chương trình CNGD của Hồ Ngọc Đại có đề cập tới miền Nam Việt Nam trước 1975?

    2- Chương trình CNGD giải thích thế nào về các sự kiện lịch sử – xã hội lớn ở miền Bắc như Cải cách Ruộng đất, Nhân văn – Giai phẩm, Xét lại … và các vấn đề chính trị quan trọng ở miền Nam sau 1975 như Cải tạo Công Thương Nghiệp Tư Bản Tư Doanh, vượt biên, học tập cải tạo… ?

    3- Cá nhân anh, một phụ huynh, một người có lẽ đã hưởng một nền giáo dục khác (tôi đoán anh là người miền Nam), thấy rằng những kiến thức đó có cần thiết cho học sinh không? Các con anh và bạn bè cùng lớp có bao giờ đặt câu hỏi về những chủ đề chính trị “tế nhị”? Theo anh, giữa “âm vị học” và một tác phẩm của Lê Đạt (hay Thanh Tâm Tuyền, Vũ Hoàng Chương, Du Tử Lê, Nguyên Sa …), cái nào có ích hơn cho tư duy của trẻ nhỏ ?

    Xin được mở ngoặc là tôi hỏi vậy chỉ để tìm hiểu thêm, chứ không có ý khiêu khích Nam/Bắc, tôi không làm chính trị, sinh ra ở HN và không có tư thù với chính quyền trong nước.

    Xin cám ơn anh trước.

  • TQNam MonsterID Icon TQNam

    @: Admin
    Xin cám ơn anh đã cập nhật cho tôi về chương trình phổ thông ở Pháp hiện nay. Khi xưa thì cấp primaire bao gồm 6 lớp, bắt đầu từ Douzième đến Septième. Và giờ thì tôi mới biết mấy chữ CP, CE1, CE2, v.v. là gì chứ lâu nay ra nhà sách Xuân Thu thấy mấy cuốn sách và CD giáo khoa ghi mà không hiểu nghĩa là gì. Tôi cũng lạ và chưa nghe một ai giảng cho biết vì sao họ lại tính ngược từ lớp 12 lên như vậy. Trước GP ở miền Nam còn chịu ảnh hưởng của Pháp nên mới gọi lớp sáu là lớp Đệ Thất cho đến lớp 12 là lớp Đệ Nhất.
    Và cách đây không lâu, khi đọc một bài trên Tia Sáng của ông HNĐ tôi mới biết là miền núi phía Bắc dạy lại chương trình CNGD. Nghĩ cũng ngộ.

    @: Bích Phượng
    Trước hết là cô đừng ngại cái chuyện Bắc Nam với tôi, tôi đúng là dân Nam Kỳ (cục) đây ;-) , nhưng chẳng để ý chi mấy cái đó chi cho mệt. Tôi xin trả lời mấy cây hỏi của cô như sau:
    Theo chổ tôi được biết thì nhóm của ông HNĐ đã không biên soạn được trọn bộ sách giáo khoa cho tất cả các môn, tất cả các lớp bậc phổ thong, chủ yếu là sách cho 2 môn tiếng Việt và Toán mà thôi, nhưng cũng chỉ vài lớp. Như con tôi học theo CNGD được 3 năm đầu cấp 1 ở 2 môn tiếng Việt và Toán, còn thì học chương trình bình thường. Cho nên khi tôi nói “Phải thôi” là cũng vì vậy. Có lẽ nổ lực của nhóm Cánh buồm gần đây là lần đầu tiên, nhưng rồi sẽ tới đâu?
    Nếu CNGD mà có trọn bộ sách giáo khoa thì tôi nghĩ cũng sẽ không đề cập đến những vấn đề mà cô hỏi vì … là … mà … “vùng cấm”! Còn có cần không thì chắc chắn là còn. Tình trạng hiện nay tôi gọi là “sự đứt gẫy lịch sử”, mà lịch sử không thể có khoảng trống. Sự đứt gẫy, khoảng trống đang từng ngày gây tác hại lên đời sống dân ta mà chẳng mấy ai nhận ra. Một vị quan chức từng than là các lễ hội dân gian trong Nam hiện không bị tha hóa dữ dôi như ngoài Bắc. Có khi nào, có ai đó cố gắng trả lời vì sao nên nỗi? Theo cô thì tại sao? Theo tôi là vì “sự đứt gẫy lịch sử” nầy ở ngoài Bắc dài hơn, dữ dội hơn so với trong Nam, đây là nguyên nhân chính. Một cách hình dung thì cô cứ quan sát một con vật bị nhốt lâu ngày, nó sẽ cuồn chân, khi được thả ra, nó phóng chạy như điên, gần như vô hướng; càng cuồn chân nó càng chạy bạo liệt.

    Riêng câu thứ 3, hỏi tức trả lời. Nếu cô muốn hiểu hơn thì có thể xem thêm mấy bài viết của tôi tại đây: http://khucquanhanh.vn/diendan/showthread.php?56-Gi%E1%BB%AFa-%C4%91%C6%B0%E1%BB%9Dng-l%C6%B0%E1%BB%A3m-%C4%91%C6%B0%E1%BB%A3c

  • bích phượng MonsterID Icon bích phượng

    @Anh TQ Nam:

    Cám ơn anh đã trả lời.

    Trước khi hỏi anh về chương trình KHXH của Hồ Ngọc Đại, tôi cũng đã nghĩ rằng chỉ khi trời sụp thì CNGD mới cho vào chương trình những chủ đề này. Vấn đề không phải là chúng nhạy cảm đến độ như thế (ví dụ, thơ Lê Đạt ngay từ những năm 90 đã được phép XB, hay những tác giả lớn của miền Nam trước 75 không hề “chống Cộng” chút nào). Vấn đề là cái tầm của ông Hồ Ngọc Đại chỉ có thế mà thôi.

    Ngày nay vào Nam như cơm bữa, thậm chí chuyển vào sống trong Nam, nhưng với nhiều người dân miền Bắc, miền Nam và Sài Gòn có lẽ vẫn có những “khoảng trống” không tài nào “biết” được. “Biết” ở đây mang ý nghĩa rộng hơn các khái niệm đơn sơ như người Nam da ngăm hơn, ăn ngọt hơn, nhầm dấu ngã và dấu hỏi, hay nói cám ơn và xin lỗi :-) . Bắc, Nam mang tiếng ruột thịt mà hỏi 1 nghìn người miền Bắc thì may ra mới có 1 người có thể kể tên vài tác giả miền Nam, kể tên thôi, chứ chưa nói đến việc đọc tác phẩm. Đó không phải hoàn toàn là lỗi của người miền Bắc. Biết thế nào được khi mà toàn bộ miền Nam cho đến 1975 (từ nhà cửa, phố xá, thói quen sinh hoạt đến văn nghệ, giáo dục, khoa học…) là một “khoảng trống” trong sách vở, báo chí miền Bắc trước ngày “thống nhất” và cả nước sau ngày Nam-Bắc một nhà. Lỗi của người miền Bắc chỉ là: thấy “khoảng trống” (lù lù trước mặt) mà không mở miệng ra hỏi? Nhưng đó xem ra lại cả là một vấn đề khác.

    Khi tôi hỏi anh “các con anh và bạn bè cùng lớp có bao giờ đặt câu hỏi về các vấn đề này?”, là để đo mức độ ham hiểu biết, “tư duy tự do” của các học sinh CNGD. Có vẻ như các cháu cũng không quan tâm lắm (những vẫn đề đó chưa đủ “cao siêu” để hấp dẫn các cháu? hoặc giả có hỏi thầy cô thì thầy cô cũng lại hướng về các “âm vị học” hay “tích phân”, “vi phân” cao siêu ?)

    Tôi đồ rằng, vì thế mà Bộ và lãnh đạo cũng yên tâm để CNGD tồn tại đến tận bây giờ. Thậm chí, về mặt nào đó còn có vẻ ủng hộ?

    Đầu óc mà ở trên chín tầng mây, “cao siêu” kiểu này thì càng ngoan và dễ bảo :-)

    Lúc nào có thời gian, sẽ xin bàn về các bài viết của anh. Rất cám ơn anh.

  • Nghệ Nhơn MonsterID Icon Nghệ Nhơn

    Nhà cháu “nghe”, “xem” bác Đại( Hồ Ngọc) nói nhiều lần và “biết”. Nhà cháu cũng lỡ tay làm bài thi đại học trên 23 điểm nên được đi học nước ngoài,gần với chỗ bác Đại học ngày xưa…
    Nhà cháu nhớ bác Đại kể đâu đó câu chuyện như này. Một ông giáo người Nga ôm bác Đại khóc nói rằng:”Đại ơi, tao thương chúng mày lắm. Cái thứ bọn tao sắp và đã vất đi bọn mày lại sang vác về…tao thương chúng mày lắm Đại ơi!”…
    Ờ mà bác Đại dạo này có hay xem giùm tử vi không thế nhỉ?

  • luc MonsterID Icon luc

    Cảm ơn Giáo sư Nguyễn Tiến Dũng về những phản biệt rất trên tinh thần khoa học. Tôi chỉ là một người bình thường đang sống ở HN, tôi cứ thấy CNGD của Giáo sư HNĐ có vấn đề gì đó mà không tài nào lý giải được ( Vì không có sự hiểu biết đầy đủ, vì thiếu thông tin..). Nay đọc loạt bài này và các bài khác của các tác giải khác, tôi cũng mở mang nhiều. Chúc Giáo sư khoẻ mạnh!

  • Tintin MonsterID Icon Tintin

    Xin chào các anh chị,

    Tôi xin góp ý chút xíu thôi. Vì đây là bào viết về giáo dục, đặc biệt là Tiếng Việt nên mong bác Admin dù là trích đẫn nguyên văn bài phản biện của bác TQ Nam nhưng làm ơn chỉnh lỗi gõ (Lê đạt – không viết hoa chữ đ, chữ “cách” viết thiếu chữ “h” thành “các” có thể gây hiểu sai…) và lỗi chính tả (nghành – đúng ra là ngành).

    Ngoài ra trong bài phản biện (file pdf) của Gs. NT Dũng cũng có 1 từ tôi chưa rõ ý của tác giả – đó là từ “chệch”. Vì “trệch” và “chệch” là hai từ gần nghĩa – chỉ khác nhau chút xíu (tham khảo http://vietnamese-learning.com/926/trệch-hướng-or-chệch-hướng) nên ý tác giả là “chệch vẩn đề” (đổi hướng) hay “trệch vấn đề” (không trúng) là điều tôi muốn hỏi?

    Việc tuy nhỏ nhưng theo tôi là cần vì có thể có nhiều bạn trẻ sẽ đọc mà lớp trẻ ngày nay (rất tiếc là) hay viết sai chính tả.

    Во всяком случае, всего наилучшего, профессор Зунг!

Leave a Reply

  

  

  

You can use these HTML tags

<a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <strike> <strong>

Spam Protection by WP-SpamFree