GS Nguyễn Minh Thuyết phản biện GS Hồ Ngọc Đại về giáo dục

 

(Sửa ngày 28/07/2012: Thêm câu trích dẫn Lenin bị bỏ sót)

Đây là bài GS Nguyễn Minh Thuyết gửi trực tiếp cho tôi ngày hôm nay (27/July/2012) cho blog zetamu.

Xin chân thành cảm ơn GS Nguyễn Minh Thuyết !

—>

TIẾP TỤC PHẢN BIỆN GS HỒ NGỌC ĐẠI VỀ GIÁO DỤC

GS. TS NGUYỄN MINH THUYẾT

Đọc loạt bài “Phản biện GS Hồ Ngọc Đại về giáo dục”, tôi rất khâm phục kiến thức sâu rộng và lập luận chặt chẽ của tác giả Nguyễn Tiến Dũng, chủ blog Zetamu, và hoàn toàn tán thành ý kiến của ông.

Được biết GS Nguyễn Tiến Dũng đã sinh sống và làm việc lâu năm tại Pháp, tôi càng trân trọng tấm lòng của ông dành cho sự nghiệp giáo dục ở quê hương mình.

Rất mong là với vị trí làm việc của mình và kinh nghiệm quốc tế về giáo dục thu thập được trong hàng chục năm làm việc ở một nước phát triển, GS Nguyễn Tiến Dũng sẽ tiếp tục có nhiều ý kiến đóng góp vào sự phát triển nền giáo dục nước nhà.

Để lý giải vì sao tán thành ý kiến phản biện của GS Nguyễn Tiến Dũng, tôi có thêm một số chia sẻ như sau:

I. Về kết quả thực tế của “công nghệ giáo dục” (CNGD) ở Việt Nam

Đề tài khoa học “CNGD” của GS Hồ Ngọc Đại (GS HNĐ) đã được thực nghiệm từ hơn 30 năm nay ở Trường Thực nghiệm, Hà Nội và có thời kỳ được cho phép thực nghiệm mở rộng ở một số trường thuộc các tỉnh thành khác trong nước. Lúc mới triển khai, GS HNĐ cho rằng chương trình của mình cao hơn hẳn chương trình cải cách giáo dục 1980 nên rất thích hợp với các địa bàn phát triển, tức là các đô thị lớn. Sau khi Bộ ban hành một chương trình thống nhất trong toàn quốc vào năm 2002, chương trình CNGD chấm dứt thí điểm ở các địa bàn ngoài Trường Thực nghiệm, Hà Nội. Nay CNGD lại được triển khai thí điểm ở một số tỉnh miền núi. Dư luận khen chê về chương trình CNGD thì nhiều, mới đây lại rộ lên với việc phụ huynh HS xô đổ cổng Trường Thực nghiệm để lấy hồ sơ đăng ký học cho con. Nhưng cũng phải nhận xét một cách rất công bằng là suốt hơn 30 năm nay, ở Hà Nội chưa có một trường nào ngoài Trường Thực nghiệm sẵn lòng tiếp nhận CNGD.

II. Về lý luận CNGD của GS HNĐ

Từ một số tác phẩm của GS HNĐ, có thể tóm tắt lý luận giáo dục của ông như sau:

1. Đối tượng của giáo dục ngày nay là trẻ em hiện đại. Giáo dục phải đưa đến cho các em những thành tựu mới mẻ nhất của khoa học là hệ thống khái niệm khoa học hiện đại.

2. Khái niệm khoa học là cái không thể chiếm lĩnh được bằng con đường định nghĩa. Dạy khái niệm khoa học cho học sinh có nghĩa là phân giải khái niệm ra thành một chuỗi thao tác để chiếm lĩnh khái niệm. Quy trình chiếm lĩnh khái niệm trong nhà trường diễn ra theo bốn bước: hành động bằng tay (trên vật thật, rồi trên vật thay thế), hành động bằng lời nói (nhắc lại hành động bằng tay thành lời nói to, sau đó thành lời nói nhỏ, rồi lời nói không thành tiếng), mô hình hoá (đúc rút chuỗi thao tác thành mô hình) và cụ thể hoá (luyện tập trên những vật liệu mới).

3. Quy trình thành mỗi khái niệm cũng như toàn bộ chương trình giáo dục phải phù hợp với quá trình phát triển của nhận thức là đi từ trừu tượng đến cụ thể. Đây cũng chính là con đường phát triển của bản thân khái niệm.

4. Về mặt tổ chức thực hiện, từ chương trình môn học đến mỗi bài học, tiết học cụ thể đều phải được thiết kế bởi những nhà chuyên môn trình độ cao. Giáo viên chỉ đóng vai trò người thi công những bản thiết kế đó; sự sáng tạo của họ không có giá trị đáng kể. Nhưng trong quan hệ thầy – trò thì người thiết kế là giáo viên, còn người thi công là học sinh (mặc dù vậy, người thi công loại này được xem là nhân vật trung tâm của giáo dục).

Chúng ta hãy lần lượt xem xét từng luận điểm trên.

Để tiện theo dõi, tôi chỉ trích dẫn luận điểm của GS HNĐ từ cuốn Công nghệ giáo dục (Nxb Giáo Dục,1994), bởi vì thực ra phần lớn nội dung, kể cả ví dụ, trong các tác phẩm của GS trùng lặp nhau rất nhiều.

1. Trước hết, nói về trẻ em hiện đại và nhiệm vụ giáo dục chúng.

Trung tâm CNGD được thành lập năm 1978, lúc đầu gọi là Phòng Thực nghiệm tâm lý học trẻ em và sư phạm thuộc Viện Khoa học giáo dục. Thế nhưng, trong hơn 30 năm hoạt động, nó chưa bao giờ cung cấp được cho Bộ Giáo dục và Đào tạo những chỉ số và kết luận khoa học đáng tin cậy về thể chất, trí tuệ của trẻ em Việt Nam hiện đại. Ngay trong cuốn Công nghệ giáo dục của mình, GS HNĐ cũng chỉ giải thích: Trẻ em hiện đại là những đứa trẻ …”ăn cùng mâm, xem chung một ti -vi với người lớn hiện đại” [tr. 152].

Từ hiểu biết rất “trực quan” về trẻ em Việt Nam như vậy, GS HNĐ đặt cho giáo dục nhiệm vụ dạy trẻ em ngay từ lớp 1 hệ thống khái niệm khoa học của đủ các môn. Ai cũng biết hệ thống khái niệm của mỗi khoa học đều rất phong phú và phức tạp. Vậy thì phải chọn dạy những khái niệm nào và chọn trên nguyên tắc nào? GS HNĐ trả lời: “Phải chọn ra cái gì cần thiết nhất (không thể không có) phù hợp nhu cầu của xã hội hiện đại (tức cũng là của trẻ em)” [tr. 155 -156].

Tôi không nghĩ rằng đó là những câu trả lời mà xã hội chờ đợi ở một cơ quan nghiên cứu khoa học sau hơn 30 năm trời nghiên cứu.

GS HNĐ đồng nhất nhu cầu của xã hội với nhu cầu của trẻ em. Nhưng có phải đâu trẻ con cứ ngồi cùng mâm và xem cùng ti -vi với người lớn là chúng có thể uống rượu, hút thuốc và thả cửa thưởng thức mọi loại phim trên màn ảnh nhỏ?

Với chủ trương dạy những khái niệm khoa học “hiện đại nhất” cho trẻ em, cho đến tận bây giờ, GS HNĐ vẫn quan niệm dạy tiếng Việt cho trẻ lớp 1 không phải là dạy chữ mà là dạy ngữ âm học hoặc âm vị học. Ông chê cách dạy của chương trình Tiếng Việt hiện hành: “Sự nhầm lẫn rất tai hại của nhà trường là đánh tráo vật thật với vật thay thế. Lẽ ra học tiếng nói (âm thanh) thì lại học chữ.” [tr. 173 -174].

Chê như vậy không chỉ sai về nhận thức mục tiêu giáo dục phổ thông mà còn rất sai về lôgic. Bởi vì trên đời này làm gì có những sự vật hay quan hệ nhất thành bất biến? Chữ đúng là “vật thay thế” của tiếng, nhưng đâu phải tiếng vĩnh viễn là “vật thật” trong mọi quan hệ? Trong quan hệ với nghĩa, tiếng trở thành vật thay thế. Đến lượt nghĩa, nó cũng chỉ là vật thay thế cho ý (implicature) mà thôi. Chọn dạy cái gì trong mỗi giai đoạn là tuỳ thuộc vào đối tượng và mục đích của giáo dục.

GS HNĐ đưa ra công thức A a để biểu diễn quy trình giáo dục, trong đó A là “thành tựu cuối cùng của nền văn minh nhân loại” (hay là “hệ thống khái niệm khoa học”), a là “sản phẩm giáo dục”, còn A là công nghệ chuyển A thành a. Theo GS, chỉ cần có một công nghệ biến A thành a thì A sẽ trở thành “mục đích” của giáo dục [tr 166, 168], do đó, để “thiết kế giáo dục”, ta chỉ “phải làm hai việc cơ bản: 1. Thuộc về A; 2. Thuộc về A ” [tr. 165].

Nói như vậy, phải chăng có nghĩa là nhà giáo dục không cần biết cho trẻ “món ăn A” để làm gì, miễn tìm được cách là anh ta có thể cứ “nhồi” cho chúng?

Liệu có phải vì công thức của GS HNĐ còn thiếu yếu tố quan trọng nhất trong giáo dục là người học (ở đây là trẻ em) nên mới xảy ra chuyện như vậy?

Theo tôi, khi dạy học, trước hết, nhà giáo dục phải đánh giá đúng đối tượng giáo dục (người học) và xác định được mục tiêu giáo dục a đã. Có a rồi, mới chọn được nội dung giáo dục A và phương pháp giáo dục thích hợp.

2. Vấn đề thứ 2 cần thảo luận là khái niệm về khái niệm khoa học và con đường hình thành khái niệm khoa học cho trẻ.

2.1. Khái niệm về “khái niệm”

Đây là cách hiểu của GS HNĐ về “khái niệm”: “Cái cốc theo đúng tên riêng của nó là cái cốc dùng để uống nước, tức là theo đúng CÁCH cốc, đúng theo cái sự sống (hay lẽ sống) của nó, nhiều khi tôi còn nói đúng theo khái niệm của nó. Thế đấy, tôi dùng cả ba cách nói để bạn nghe khỏi chán tai:

- Theo đúng tên riêng của nó.

- Theo đúng CÁCH của nó.

- Theo đúng KHÁI NIỆM của nó.” [tr 60 -61].

Theo cách giải thích trên thì “khái niệm” = “cách” = “tên riêng” (thuật ngữ), và “sự sống” = “lẽ sống” (?!).

Cũng theo cuốn Công nghệ giáo dục, “khái niệm” còn đồng nghĩa với “nguyên lí”, và “nguyên lí” lại được gọi là “phương pháp”. Những điều này được GS HNĐ khẳng định rất rõ ràng: “Để dễ hình dung, tôi gọi mỗi nguyên lí là một PHƯƠNG PHÁP” [tr. 50], ” Lẽ ra nói nguyên lí, có khi tôi dùng thuật ngữ KHÁI NIỆM” [tr. 51].

Tiếp đó, “khái niệm” lại được ký hiệu là A. Các hình thức của A gồm “hình thức vật chất” (còn gọi là “hình thức vật thể”) và “hình thức tinh thần”. “Hình thức vật chất”, đến lượt nó, lại gồm “hình thức vật thể” và “hình thức ngôn ngữ”. Còn “hình thức tinh thần” bao gồm “hình thức biểu tượng” và “hình thức khái niệm” [tr. 171 - 172].

Thật khó có thể giải trình sự phân loại độc đáo này bằng lôgic học: “hình thức vật thể” là một loại của … “hình thức vật thể”, và “khái niệm” là một loại hình thức của … “khái niệm” .

Khái niệm quan trọng nhất được hiểu một cách mơ hồ như vậy thì “thiết kế” và “thi công” chương trình CNGD thế nào?

2.2. Bây giờ nói sang phương pháp hình thành khái niệm khoa học cho trẻ em.

GS HNĐ đúng một nửa khi cho rằng: “Khái niệm cốc trú ngụ trong cái vật thể gọi là cốc chỉ bị phát hiện chừng nào chủ thể S có một cách thức hành động thích hợp, thâm nhập được vào cái cốc, để S-hoá cái cốc ấy, khiến cho cái cốc ấy không còn là vật-tự-nó (theo nghĩa của Kant) mà trở thành vật-tự-nó-và-vì-nó (Hegel) hay vật-cho-ta (Engels)” [tr.200 -201].

Tuy nhiên, hình như ông quên mất là “trên cơ sở nhận thức các quy luật và các khuynh hướng phát triển, khái niệm về một số sự vật hay hiện tượng có thể được hình thành trước khi bản thân những sự vật hay hiện tượng ấy xuất hiện” [Rozental M. M. chủ biên. Từ điển triết học. Nxb Tiến Bộ, Moxkva, 1986, /bằng tiếng Việt/, tr. 275]. Trong những trường hợp chưa có đối tượng như vậy thì chủ thể thâm nhập đối tượng bằng cách nào? Và cái gì là vật-tự-nó, cái gì là vật-tự-nó-và-vì-nó hay vật-cho-ta ở đây?

Đối với những khái niệm rộng hay trừu tượng như triết học, toán học, chủ nghĩa lãng mạn, tâm hồn …, hẳn cũng không thể phân giải chúng thành chuỗi thao tác, rồi dùng hành động bằng tay mà chiếm lĩnh được. Đặc biệt, yêu cầu áp dụng nhất loạt quy trình chuyển vào trong gồm 4 bước cho việc hình thành mọi khái niệm ở học sinh vừa không phù hợp với đặc điểm của quá trình hình thành khái niệm là sử dụng nhiều hình thức suy lý, vừa gây lãng phí thời gian.

3. Vấn đề thứ ba cần thảo luận là lôgic của chương trình giáo dục và của bài học.

Theo GS HNĐ, lôgic của chương trình và bài học là phát triển từ trừu tượng đến cụ thể, phù hợp với sự phát triển của sự vật, của khái niệm và của chính chủ thể trong quá trình chinh phục khái niệm.

Luận điểm của GS bị nhiều người phản đối, nhưng cũng được không ít người đánh giá là mới lạ. Cả hai loại ý kiến này có lẽ đều bắt nguồn từ chỗ thấy nó ngược với nhận định của V. I. Lênin:  “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn – đó là con đường biện chứng của sự nhận thức chân lý, của sự nhận thức thực tại khách quan.” [V. I. Lênin. Toàn tập, tr.29. Nxb Tiến Bộ, Moxkva, 1981, /bằng tiếng Việt/, tr179].

Tuy nhiên, các thuật ngữ “trừu tượng”, “cụ thể” mà GS HNĐ dùng là thuật ngữ của Hegel, nghĩa khác hẳn với nghĩa thông thường. Theo cách hiểu này, “cụ thể là từ đồng nghĩa với liên hệ qua lại biện chứng, với tính hoàn chỉnh bị phân chia; trừu tượng không đối lập với cụ thể, mà là một giai đoạn phát triển của bản thân cụ thể, là cụ thể chưa được phát hiện, chưa được triển khai, chưa được phát triển” [Rozental M. M., Sdd, tr. 624].

Về sau, khắc phục yếu tố duy tâm trong quan niệm của Hegel, triết học mác-xít phân biệt các cặp khái niệm “cụ thể trong hiện thực khách quan” với “trừu tượng trong nhận thức” và khẳng định: “Nhận thức lý luận thực sự khoa học là một sự vận động của tư tưởng xuất phát từ tính muôn vẻ cảm tính của cụ thể và tái hiện được khách thể với tất cả tính chất quan trọng và phức tạp của nó. Phương pháp tái hiện về lý luận một đối tượng hoàn chỉnh trong ý thức là đi từ trừu tượng đến cụ thể; đó là một hình thức phổ biến mở rộng tri thức khoa học, phản ánh một cách có hệ thống đối tượng trong những khái niệm” [Rozental M. M., Sdd, tr. 625].

Có thể đọc những chuyện “cao siêu” này trong một cuốn sách tra cứu bình thường là Từ điển triết học mà tôi đã dẫn: nguyên bản tiếng Nga in năm 1975, còn bản dịch tiếng Việt – năm 1986. Tiếc là trong cuốn sách của mình, GS HNĐ không dẫn nguồn nên đã gây hiểu lầm cho nhiều người đọc.

4. Vấn đề thứ tư đặt ra trong lý luận CNGD là vai trò của giáo viên đứng lớp.

Mô phỏng sự phân công trong sản xuất công nghiệp, GS HNĐ chia đội ngũ cán bộ giáo dục thành hai bộ phận: thiết kế và thi công. ” Người thiết kế tìm ra giải pháp tối ưu cho mỗi việc làm và hệ thống việc làm tạo ra sản phẩm giáo dục” [tr. 161]. Còn người giáo viên làm nhiệm vụ thi công trên lớp, giống như người lái xe, “không có chức năng và cũng không có năng lực [...] vượt quá năng lực thiết kế [...]. Và nếu giáo viên cũng “sáng tạo” thực thì càng lấy làm xấu hổ” [tr157 -158].

Chắc rằng rất ít người tán thành sự “phân công lao động” cực đoan nói trên. Bởi vì không thể đánh đồng việc đào tạo con người với việc sản xuất đồ vật và điều khiển cái xe.

Tôi nhớ nhà lãnh đạo Việt Nam Lê Duẩn lúc sinh thời từng căn dặn cán bộ giáo dục: “Xây dựng con người, xây dựng tình cảm không thể theo công thức được [...]. Cho nên, thầy giáo không phải chỉ dạy bằng công thức, bằng những câu, chữ có sẵn, mà phải dạy bằng tất cả tâm hồn mình” [Lê Duẩn, về văn hoá văn nghệ. Nxb Văn hoá – Thông tin, Hà Nội, 1997, tr. 291]. Nhắc lại ý kiến này có thể bổ ích ít nhiều cho lý luận về “thiết kế” và “thi công” trong giáo dục chăng?

Giáo dục Việt Nam bên cạnh những thành tựu không hề nhỏ cũng còn tồn tại rất nhiều bất cập, yếu kém, cần nhanh chóng được khắc phục. Trên con đường đổi mới, có thể có rất nhiều quan điểm, nhiều cách tiếp cận khác nhau và việc trao đổi, tranh luận giữa những người quan tâm, giữa các nhà khoa học là rất đáng trân trọng. Bài viết này chỉ góp thêm một tiếng nói vào mối quan tâm chung của nhiều người về việc chọn đường đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục Việt Nam.

 ————————-

 

Print Friendly
 

41 comments to GS Nguyễn Minh Thuyết phản biện GS Hồ Ngọc Đại về giáo dục

  • Minh MonsterID Icon Minh

    Tôi không hài lòng về bộ sách CNGD của GS.HNĐ.Con toi năm nay vào lớp 1. Nó thông minh hơn tôi ngày trước là điều chắc chắn nhưng chắc là nó chậm biết đọc biết viết hơn tôi vì học sách CNGD

Leave a Reply

  

  

  

You can use these HTML tags

<a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <strike> <strong>

Spam Protection by WP-SpamFree