Vấn đề thất nghiệp: các nguyên nhân và giải pháp

 

(Thừa giấy vẽ voi bàn lăng nhăng về thất nghiệp chơi. Có nhiều chỗ đang viết dở, đây mới chỉ là cái khung, nhưng mệt rồi lúc khác viết tiếp sau)

Đánh số thứ tự: P là để chỉ các vấn đề / nguyên nhân, S là các giải pháp, C là các điều cần chú ý canh chừng

Tỷ lệ thất nghiệp trên thế giới đang ở mức cao. Ngay Mỹ là nước có truyền thống thất nghiệp thấp, thì nay cũng có 9% dân thất nghiệp theo con số chính thức (không chính thức có thể lên đến 18%). Tây Ban Nha cũng có thất nghiệp xấp xỉ 20%, Pháp cũng gần 10%. Ở VN thì không rõ là bao nhiêu (?) Tỷ lệ thất nghiệp “cứng” ở VN có thể rất ít nhưng thất nghiệp “mềm” (không có việc ổn định, đi ra chợ người làm thuê lăng nhăng hay là ngồi chơi ở nhà) hay là “underemployed” thì chắc khá cao ?

P1. Các yếu tố tự nhiên. Hiểu là các yếu tố tất yếu xảy ra trong một quá trình phát triển kinh tế lành mạnh bình thường khiến cho tỷ lệ thất nghiệp không thể là 0% mà phải là số dương nào đó. Can thiệp vào các yếu tố tự nhiên đó có thể có hại hơn là có lợi. Một số yếu tố tự nhiên là:

P11. Sự cần thiết phải có một lực lượng lao động dự trữ. Cũng như ta cần có kho gạo dự trữ, kho xăng dự trữ, thì xã hội cũng cần có một lực lượng lao động dự trữ, vì nếu ai cũng đi làm hết công suất cả rồi, thì các công ty sẽ rất khó tuyển việc, khó phát triển, khó tạo ra ngành nghề mới, v.v.

Người ta ước lượng rằng khi kinh tế đang phát triển ở mức tối ưu thì tỷ lệ không có việc làm cũng khoảng 4-5%, và con số 4-5% cũng gần như là tối ưu, vì tạo nguồn dự trữ và phục vụ cho việc “quay vòng” từ ngành này sang ngành khác, và ngoài ra còn phải tính đến một lượng dân số vì lý những do sức khỏe, tâm lý, gia đình, v.v. mà tuy cũng muốn tìm việc nhưng rất khó tìm được việc thích hợp dù là điều kiện kinh tế của xã hội ra sao.

Những người trình độ càng cao thì thường có năng suất lao động càng cao và càng ít thất nghiệp hơn là người trình độ thấp, và trong số những người thất nghiệp thì một tỷ lệ lớn là trình độ thấp, hay chỉ làm được những công việc có nhiều người khác làm được. Tính về kinh tế, thì 5% người thất nghiệp không có nghĩa là hiệu suất kinh tế giảm 5% so với nếu tất cả đều có việc, mà có khi chỉ giảm 1-2%.

P12. Sự phát triển công nghệ và thay đổi cấu trúc ngành nghề kinh tế theo thời gian. Có những ngành mới mọc ra, ngành cũ co lại, v.v. Ví dụ như ngành phần mềm máy tính cách đây 1 thế kỷ chưa hề có. Trong khi đó ngành luyện kim cách đây 1 thế kỷ dùng rất nhiều lao động phổ thông thì bây giờ chỉ cần ít thôi. Quá trình chuyển đổi đó ắt dẫn đến việc đóng cửa các đơn vị sản xuất hay kinh doanh không còn cần thiết nữa, và những người làm những ngành đang co lại có thể bị thôi việc một thời gian trước khi tìm được công việc khác, là chuyện bình thường.

P121. Máy móc làm thay người, khiến cho nhu cầu về giờ làm việc (đặc biệt là những công việc “chân tay” trong công nghiệp) giảm đi.

S121. Giảm giờ làm việc. Khi ta có máy làm thay ta, thì nên lấy đó làm mừng, là ta có nhiều thời gian rảnh rỗi hơn, mà hiệu suất công việc vẫn như cũ hoặc tăng lên. Các giải quyết cho xu hướng này là giảm giờ làm đi cho tướng xứng với chuyện máy làm thay người.

Trên thực tế, số giờ làm việc của công nhân trên thế giới giảm đi rất nhiều trong hơn một thế kỷ qua: nếu như vào cuối thế kỷ 19 công nhân có thể phải làm 7 ngày một tuần, 11-12 tiếng một ngày (tức quãng 80 giờ làm việc 1 tuần), thì ngày nay ở các nước tiên tiến chỉ còn làm 40 giờ một tuần hoặc ít hơn.

Xu hướng giảm giờ làm có thể tiếp tục được không, ví dụ xuống chỉ còn 25-30 giờ 1 tuần thay vì 35-40 giờ như hiện nay ? Nếu giữ số giờ làm việc cao như trước trong khi máy móc hiện đại lên, thì sẽ không có đủ việc làm, nên giảm giờ làm có lẽ là xu hướng tiếp tục. Tuy nhiên các cản trở của xu hướng này là:

i) Giảm giờ làm thì thu nhập không tăng hay có thể bị giảm theo, vậy làm thế nào nếu muốn có thu nhập cao ?

ii) Thời gian thừa không làm việc thì làm gì ?

Do hai yếu tố trên, khó có thể giảm giờ làm khi mà đời sống khó khăn, với số giờ làm hiện tại mà lương đã không đủ sống, hay đủ trang trải các khoản như y tế, lương hưu, v.v. Giảm giờ làm chỉ là giải pháp tốt khi mức sống vẫn được đảm bảo, và người lao động thấy thoải mái chấp nhận trên tinh thần tự nguyện (thấy làm từng đấy giờ là đủ rồi, muốn có thời gian rỗi cho những việc khác).

C121. Quá trình giảm giờ làm phải từ tốn và linh hoạt, chứ không thể theo kiểu ép buộc (như là luật Aubry 35 giờ ở Pháp). Đi kèm với việc giảm giờ làm chính thức phải là sự tạo ra các hoạt động bổ ích khác cho con người.

S122. Tăng cường các công việc đòi hỏi trí óc. Trên thực tế, tỷ lệ các công việc đòi hỏi trí óc, trình độ cao ngày càng tăng trong nền kinh tế. Đi kèm với việc này là sự cần thiết phải:

S123. Phát triển giáo dục đào tạo, để có thể theo kịp nhu cầu gia tăng của các công việc đòi hỏi trình độ cao. Đây phải là quốc sách của mọi nước. Có hai động cơ chính của một nền kinh tế hiện đại, và đó chính là khoa học công nghệ và giáo dục đào tạo.

C1. Nếu níu kéo không cho các ngành cũ giảm người làm để giảm thất nghiệp, ví dụ như bằng việc ngăn chặn công nghệ mới, hay rót tiền nhà nước vào nuôi ngành cũ, thì cũng là kìm hãm sự phát triển của xã hội và không khuyến khích được sự phát triển những ngành mới. Cách giải quyết tốt hơn là khuyến khích phát triển ngành mới và đa dạng hóa.

P2. Thừa người/giờ lao động so với với nhu cầu trong các lĩnh vực nào đó.

P22. Cung trong lao động tăng vượt quá cầu. Ví dụ như là chỉ có 60 suất tuyển giáo viên phổ thông mà đạo tạo mới ra 100 giáo viên, thì thừa 40 người không có chỗ làm việc giáo viên.

P23. Có cung về lao động hấp dẫn hơn từ chỗ khác. (Tương tự như là đối với hàng hóa: có các mặt hàng thay thế cạnh tranh). Ví dụ điển hình là lao động Trung Quốc rẻ đã chiếm các việc xản suất của phương Tây, dẫn đến nhiều triệu người phương Tây mất việc.

S21. Kích cầu. Đây là một biện pháp “được ưa chuộng” vào các thời điểm kinh tế suy thoái: chính phủ tung tiền ra để kích thích nhân dân đầu tư và tiêu dùng, dẫn đến kích cầu các mặt hàng và dịch vụ, dẫn đến kích cầu về lao động và tạo thêm công ăn việc làm.

C211. Cần phân biệt giữa đầu tư và tiêu pha. Nếu kích cầu chỉ để phục vụ tiêu pha, không đầu tư, thì sẽ chỉ tạo việc làm nhất thời chứ không bền, mà lại gây thêm bấp bênh về tài chính.

C212. Nếu không cẩn thận thì sẽ phải trả giá rất đẳt cho việc kích cầu. Ví dụ ở Mỹ, kích cầu của chính phủ trong 3 năm 2008-2011 nhằm kéo nước Mỹ khỏi suy thoái đã làm cho nợ của chính phủ tăng thêm quãng 4 nghìn tỷ USD, từ quãng 10 nghìn tỷ lên thành 14 ngìn tỷ ! Việc kích cầu không cẩn thận cũng có thể dẫn đến sự hủy hoại tài nguyên thiên nhiên môi trường nhanh chóng.

S22. Khuyến khích về hưu non. Đây là một giải pháp khả dĩ để giảm “quân số” ở những nơi thừa người. Những người về hưu non (kèm với khoản tiền bồi thường nào đó khi về) không có nghĩa là phải thôi không hề lao động nữa, mà có thể học nghề khác, chuyển sang làm những công việc khác đang cần người làm.

S23. Điểu chỉnh các ngành đào tạo sao cho thích hợp với nhu cầu xã hội, để giảm thiểu tình trạng thiếu chỗ này thừa chỗ nọ. Muốn vậy các trường đại học và dạy nghề cần theo dõi nhu cầu của xã hội, tự chủ và linh hoạt trong việc đào tạo.

P3. Giá lao động quá đắt. Nhu cầu về lao động không phải là không có, nhưng giá thành của lao động quá đắt khiến cho người có thể thuê lao động tìm giải pháp khác hoặc bỏ đấy mà không thuê nữa.

P31. Làm việc không hiệu quả, chất lượng thấp mà tốn thời gian.

P32. Lối làm ăn chụp giật “chém được ai thì chém”.

P33. Các thứ luật lệ, ảnh hưởng công đoàn, v.v. làm đội giá thành lao động lên

P4. Không có tiền thuê lao động. Có nhu cầu, nhưng không có tiền để tuyển lao động.

P41. Nghèo đói kinh niên.

P42. Khủng hoảng kinh tế tài chính. Khi gặp khủng hoảng, người ta có thể bị buộc phải sa thải hàng loạt lao động vì không có tiền trả lương, và hạn chế tuyển lao động mới.

S4. Phát triển kinh tế phi tài chính / phi lợi nhuận. Kinh tế phi tài chính là các hoạt động và trao đổi kinh tế mà (có ít nhất một phần) không cần dùng đến tiền / không tính lợi nhuận. Tiền là công cụ trao đổi, nhưng không phải cách duy nhất để trao đổi, và cũng không phải lúc nào cũng là cách tốt nhất.

Ví dụ: Trồng rau ở trong vườn hay trên mái nhà cho nhu cầu rau ăn của gia đình, là một cách tự tạo việc làm và tăng chất lượng cuộc sống (thể dục chân tay và đảm bảo được ăn rau sạch).

Ví dụ khác: một trường học có nhà cửa bẩn thỉu. Nếu thuê người dọn thường xuyên thì tốn kém trường không có tiền chi. Nếu trường bắt sinh viên đóng học phí cao để lấy tiền thuê dọn dẹp thì cũng gây khó khăn cho sinh viên. Trường có thể giữ học phí thấp nhưng yêu cầu sinh viên thỉnh thoảng dọn dẹp công ích, như thế có thể tốt cho cả hai: trường được sạch sẽ và sinh viên không phải đóng học phí cao.

Ví dụ khác: Ông A là thợ làm vườn, bà B là giáo viên quen nhau và cả hai đều thiếu tiền. Bà B có thể kèm giúp con ông A học, đổi lấy ông A làm vườn giúp bà B. Sự trao đổi “barter” này không cần đến tiền mà vẫn đem lại việc làm và lợi ích cho cả hai bên.

Ví dụ khác: Tổ chức “Quán ăn của trái tim” (Restaurant du coeur) ở Pháp là tổ chức từ thiện, tạo ra việc làm (tình nguyện) cho nhiều người và có giá trị rất lớn về kinh tế xã hội (lớn hơn nhiều so với số tiền nó có), vì nó giúp cho gần 1 triệu người Pháp đói kém có đồ ăn trong mùa đông.

Nếu như tầng lớp thượng lưu trong xã hội có thể không cần đến kinh tế phi tài chính, thì ngược lại kinh tế phi tài chính là mảng quan trọng cung cấp việc làm cũng như dịch vụ và đồ dùng cho tầng lớp dân nghèo.

P5. Cơ chế quan liêu, quản lý yếu kém v.v. Thất nghiệp cũng có thể là hệ quả trực tiếp của việc quản lý yếu kém, sự quan liêu, vô trách nhiệm, v.v., khiến cho có những nơi vừa có tiền vừa có nhu cầu sử dụng lao động nhưng vẫn không thuê được lao động.

P6. Mất công cụ lao động. Những người lao động bị tước đoạt công cụ hay môt trường thích hợp để có thể lao động, thì không lao động đúng nghề được nữa, và trở nên thất nghiệp. Ví dụ như nông dân bị mất đất làm ruộng, nhà máy bị phá hủy, v.v.

Print Friendly
 

10 comments to Vấn đề thất nghiệp: các nguyên nhân và giải pháp

  • Nkd MonsterID Icon Nkd

    Riêng kinh tế cũng có mấy cái lý thuyết về về Unemployment cơ đấy. Anh có thể xem ở phía dưới ở trong wiki. Không khéo anh lại phát minh lại cái bánh xe.

    http://en.wikipedia.org/wiki/Unemployment

    Dạo này anh quan tâm đến nhiều thứ thế ạ??

  • admin MonsterID Icon admin

    Thanks NKD

    Van de cua toi khong phai la “sang tao ra banh xe dap”
    ma la di khao sat lai tinh hinh de khoi lao theo cacvet xe do :-)

    toi thay cac nha chinh tri nhieu khi dua ra cac giai pha’p rat la lang bam cho viec that nghiep nay (ke ca anh chang Obama cua NKD), nen phai di hoc bo tuc van hoa ve viec nay xem sao

  • hong van MonsterID Icon hong van

    @admin: các nhà chính trị ở Mỹ cũng chịu ảnh hưởng các nhóm lợi ích khác nhau. Obama chắc hiểu vấn đề chứ. Chính sách nào (1,2,3) của Obama em thấy lang băm?

  • Nkd MonsterID Icon Nkd

    Em nghĩ các chính sách kinh tế đều có ủy ban cố vấn kinh tế, chứ một mình cậu Obama làm sao dám quyết các vấn đề động chạm rất nhiều được. Nhưng cũng có thể chính sách nào cũng bị ảnh hưởng bởi đường lối chung của đảng đề ra từ ban đầu, hoặc lợi ích các nhóm nào đấy mà đảng bảo vệ.

    Ví dụ cậu Obama theo đuổi chính sách ủng hộ người nghèo, giảm bất công xã hội, thì các chính sách chống thất nghiệp của cậu sẽ mạnh tay hơn.

  • Nkd MonsterID Icon Nkd

    Site của hội đồng cố vấn kinh tế đây.

    http://www.whitehouse.gov/administration/eop/cea/

    Thực ra nhiều khi lựa chọn chính sách nào rất khó, bởi vì mức độ dự báo tác động của chính sách ngắn hạn bây giờ còn kém lắm. Ở tất cả các nước, hầu như vẫn dựa vào kinh nghiệm. IMF hầu như không dự đoán được thời điểm xảy ra khủng khoảng hay suy thoái. Cậu Roubini cậu dự báo được lần gần đây nhất mà được báo chí ca ngợi mãi.

    Tài chính (thị trường tài chính) có nhiều data thì mới ứng dụng toán học được nhiều. Còn kinh tế số liệu ít, cho nên mức độ chính xác nhờ dự báo bằng tính toán hay lập luận hiện nay không hơn gì nhau.

  • Sao cái hội đồng đó hiện tại chỉ có 2 người nhỉ? Mà mấy ông bà đó là do TT chọn thì phải?
    VN mình cũng có ban nghiên cứu của CP nhưng giờ giải thể rồi. Không biết đó là 1 ban tổng hợp hay chỉ cố vấn về kinh tế? Chị Nkd có biết chỗ nào nói về cái ban đó ko, chẳng hạn thành viên là ai, có những hoạt động gì, tác động đến chính sách thế nào?

  • admin MonsterID Icon admin

    Chị Vân

    Em chưa có khả năng phân tích chính sách kinh tế của chính phủ Obama, nhưng trông kết quả thì thấy có vẻ chán:

    * Vác thêm nợ chính phủ đến thêm 4 nghìn tỷ USD (?)trong mấy năm, để rồi bị tụi S&P đánh tụt điểm. Đây có lẽ là một trong những vấn đề nghiêm trọng nhất.

    * Kích cầu ở Mỹ đi vào đâu, hay lại vẫn vào túi TQ và vào túi bọn tài chính là chủ yếu ? Obama không dám đụng đến phố Wall, vẫn để tụi nó
    ngày càng lũng đoạn ?

    * Không thấy kích cầu tạo ra việc làm (thất nghiệp vẫn dang trên 9% theo con số chính thức, so với 6% vào giữa năm 2008).

    Một đất nước mà đang mắc nợ, lại tiếp tục kích cầu cho việc tiêu xài, chứ không kích thích được việc xuất khẩu để trả nợ, thì sẽ chỉ càng ngày càng mắc nợ thêm cho đến lúc sập tiệm. Nước Mỹ tất nhiên còn giầu lắm, nhưng nguy cơ nghèo đi và bị TQ thâu tóm bớt tài sản (gán nợ). Có thể trong những năm tới Mỹ sẽ giở bài phá giá đồng USD và gây lạm phát cao, để mà trốn nợ :D

  • Nkd MonsterID Icon Nkd

    @Nam: ở Mỹ 1 cố vấn chính chịu trách nhiệm thôi. Người đấy chịu trách nhiệm rất là lớn bên cạnh tổng thống về việc thành bại của nền kinh tế. Ở VN trước có ban cố vấn cả kinh tế, ngoại giao, có mấy người như Phạm Chi Lan, Bùi Kiến Thành, Tôn Nữ Thị Ninh, nhưng Nguyễn Tấn Dũng lên làm thủ tướng giải tán rồi thì phải.

    Anh Dũng xem cái này nhé:

    http://www.taichinhthegioi.net/thong-tin/chi-tiet/15439/Warren-Buffet-Neu-co,-toi-se-xep-hang-AAAA-cho-My!/

    Tình hình vẫn ảm đạm, be bét, nhưng mà ý kiến của các chuyên gia thì vẫn khác nhau.

  • hong van MonsterID Icon hong van

    Zũng:
    Chị cũng ko có nhiều thời gian theo dõi Obama, nhưng (tạm chủ quan) cho rằng ông ây bị bọn đảng CH phá đám nhiều để dân Mỹ chán, lần tới sẽ thua cuôc vào Nha trắng.

    So Mỹ với châu Âu thì thấy bọn Mỹ còn cẩn thận hơn châu Âu vì nó có luật không cho phép Tàu mua nhưng công ty quan trong, còn châu Âu vẫn chưa có luật.
    (Hôm trước nói chuyên với ông Mỹ gôc Tàu, hỏi cậu, bao giờ cậu nghi Tàu sẽ đuổi kịp phương Tây, cậu cười cười bảo là giờ Tàu có nhiều tiền chỉ nên bỏ tiền ra mua thôi. Cậu ấy cũng bảo, giờ dân Tàu chỉ gờm Ân độ, VN không phải là đối thủ). Thực ra Tàu vẫn còn chạy xa châu Au va Mỹ lắm.

    Có phải em giữ quyển The General Theory of Employment, Interest and Money của Keynes không nhỉ? Chị tìm trong nhà không thấy?

  • Thái Nhiếp MonsterID Icon Thái Nhiếp

    Nói thật bài viết quá tòi, không phải cái nhiều người đang cang đê bổ sung kiến thức và luận văn, thật là tệ khoi đọc cái của ban. đi ngu đi dung viết nữa.

Leave a Reply

  

  

  

You can use these HTML tags

<a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <strike> <strong>

Spam Protection by WP-SpamFree