Trang Trại Súc Vật và các truyện khác của Orwell

Hôm nay, trong lúc ăn cơm trưa, tôi mới hỏi cậu con trai xem có biết Orwell không. Hóa ra là nó cũng biết, và  quyển “Trang Trại Súc Vật” (nguyên văn tiếng Anh: Animal Farm) có trong chương trình phổ thông lớp 11 của Pháp (tiếng Pháp là lớp “premier”), nó đã phải học, thế mà tôi quan liêu quá không biết hoặc là đã quên mất. Thật thú vị khi thấy học sinh phổ thông của Pháp cũng được học về quyển truyện này.

Tôi còn nhớ mang máng, lần đầu tiên được biết đến “Trang Trại Súc Vật” là khi ở Nga, lúc Liên Xô sắp sụp đổ. Ngày xưa ở Liên Xô người ta cấm nó nên hiếm ai được biết. Và người ta còn nói rằng ông Orwell này được ăn tiền của bọn tư bản đế quốc để viết truyện nói xấu Liên Xô. Nhưng thời cuối những năm 1980 thì không còn cấm đoán được nữa, và truyện này được lưu truyền ở Nga. Ai đọc truyện đó lần đầu chắc cũng không khỏi “giật mình”, vì nó là một thứ truyện ngụ ngôn (như kiểu ngụ ngôn Lafontaine) nhưng mà là ngụ ngôn hiện đại, mô tả một “cuộc cách mạng của các con vật để xóa bỏ bóc lột” đã thành công nhưng cuối cùng các con vật lại trở thành nô lệ cho một chế độ độc tài mà chính chúng làm cách mạng để tạo dựng lên như thế nào.

Hôm nay tôi mới có dịp ngồi tìm hiểu qua về ông Orwell:

Orwell là người Anh nhưng sinh ra ở Ấn Độ vào năm 1903 và tên là Eric Blair, còn George Orwell là bút danh của ông ta. Ông lớn lên ở Ấn Độ, và tham gia vào đội ngũ cảnh sát (của Anh lúc đó) tại Ấn Độ. Nhưng sau đó ông bỏ “nghề binh”, quay trở về Anh, và quyết tâm theo đuổi nghề yêu thích của mình là viết văn. Thời kỳ đầu ở Anh (những năm 1930-1933), ông ta sống chật vật qua ngày, với những công việc như là bồi bàn, phụ bếp, dạy học, viết bình luận cho báo chí, và đồng thời viết truyện dài đầu tiên của ông nhan đề “Những ngày Miến Điện” (Burmese Days), kể về thời ông được cử đi sang Miến Điện  khi còn làm cảnh sát. Quyển truyện này đầu tiên được in ra ở Mỹ năm 1935 (vì ở Anh không ai chịu mua bản quyền), rồi sau đó có được in ở Anh. Cũng vào quãng đó, ông bắt đầu bị viêm phổi mãn tính.

Vào năm 1936, khi nội chiến ở Tây Ban Nha xảy ra, Orwell nhận thấy hiểm họa của Phát Xít, và đã tình nguyện sang Barcelona chiến đấu trong hàng ngũ quân cộng hòa bên cạnh những người cộng sản ở đó, và bị bắn tỉa bị thương ở cổ nhưng không chết. Sau đó ông quay trở về Anh, và viết truyện “Homage to Catalonia”, xuất bản năm 1938, ca ngợi sự chiến đấu chống Phát Xít ở vùng Catalonia (Tây Ban Nha), nhưng đồng thời lên án phe cộng sản lợi dụng cuộc chiến này cho mục đích riêng của mình (?) Năm 1939 ông xin gia nhập quân đội Anh, nhưng bị từ chối vì lý do sức khỏe, và cuối cùng thì được cho vào Home Guard (quân phòng vệ). Sau đó ông làm việc cho BBC, rồi trở thành biên tập viên văn học cho tờ báo Tribune, và đồng thời sáng tác văn học.

Orwell viết nhiều truyện (quyển tuyển tập truyện Orwell mà tôi mới lấy ở trên mạng về có 6 truyện), nhưng trong đó có hai truyện bất hủ, mà các thế kỷ sau người ta sẽ còn phải nhắc đến, đó là: Animal Farm (1945), và 1984 (1949).Có lẽ bệnh tật và vết thương làm sức khỏe của Orwell giảm sút nhanh chóng, và ông bị chết vì sức khỏe quá yếu vào năm 1950 khi chưa đầy 47 tuổi.

Ngay từ khi mới in ra, truyện Animal Farm đã được coi là nhằm vào Stalin. Bởi vậy, ở các nước xã hội chủ nghĩa, truyện của Orwell bị coi là cực kỳ phản động. Tuy nhiên, đến năm 2010, Quốc Hội Nga đã chính thức công nhận Stalin là đồ tể giết hại nhiều người vô tội, và có lẽ không ai ở Nga lại không biết đến Animal Farm.

Quyển 1984 thì không phải là truyện ngụ ngôn, mà là một truyện viễn tưởng về thế giới vào năm 1984 (lúc truyện viết ra là năm 1949), với sự thống trị của một độc tài, với một bộ máy tuyên truyền lừa bịp rửa não dân chúng, làm cho nhân dân u mê không còn phân biệt được gì nữa. “Chiến tranh là hòa bình, tự do là nô lệ, ngu si là sức mạnh”. Từ Big Brother hình như xuất phát chính từ quyển sách này. Quyển 1984 có tính “cảnh báo” cả với các nước phương Tây. Khi Mỹ đổ tội cho Irak có vũ khí hạt nhân để lấy cơ đánh Irak, rồi các tuyên truyền nhảm nhí của Mỹ về vấn đề Irak hay vấn đề chống khủng bố, lại làm người ta nhớ đến quyển sách này 1984 này.

Print Friendly

18 comments to Trang Trại Súc Vật và các truyện khác của Orwell

  • admin MonsterID Icon admin

    @ Bích Phượng

    Hồi đầu năm nay tôi sang Thụy Sĩ công tác, có được mọi người rủ đến “ăn ké” liên hoan họp mặt đầu năm do đ/c Đại Sứ VN ở Geneva tổ chức chiêu đãi dân Việt Kiều. Hôm đó chủ yếu là có dân ngoại giao VN, và dân VN ở Thụy Sĩ và Pháp (những vùng gần Geneva). Chủ yếu là ăn uống nói chuyện hát hò vui vẻ, chứ cũng không có đọc diễn văn gì. Bà vợ ông đại sứ ở Geneva cũng là giảng viên đại học (ĐHSP ngoại ngữ) đã về hưu, trông cũng khá đàng hoàng.

    [Edit: theo như Bích Phượng nói thì bà “luộc” văn là ở Paris chứ không phải là ở Geneva] Chuyện các “quan bà” tham lam lấy danh chồng để buôn lậu hoặc nhật của đút thì nghe nhiều rồi, nhưng mà ăn cắp văn người khác thì đây mới là lần đầu được nghe.

  • bích phượng MonsterID Icon bích phượng

    @Admin, đây là phu nhân đại sứ VN tại Uy-nét-xì-cô Paris cơ. Có vẻ ở Pháp cũng chục năm rồi, chứ không phải về hưu mới theo chồng sang.

    Thật không sao hiểu nổi. Thực ra, muốn dịch thì xin phép tác giả, người ta đồng ý ngay, lại còn cám ơn là đằng khác. Nhưng có lẽ muốn là nhà văn cho oai. Đi đâu tự giới thiệu là phu nhân đại sứ VN, tiến sĩ, giáo sư, giờ lại thêm danh hiệu “nhà văn”, các bạn quốc tế cứ gọi là lác mắt!

  • bích phượng MonsterID Icon bích phượng

    Dưới đây là thông tin mới về “cuốn tiểu thuyết bị luộc ở Pháp”. Chị Nguyễn Thị Mỹ Dung, tác giả, đã chính thức lên tiếng. Còn bà Trần Thị Hảo thì vẫn chưa trả lời.

    TÔI ĐÃ BỊ TRẦN THỊ HẢO ĐOẠT QUYỀN TÁC GIẢ RẤT TRẮNG TRỢN

    Mùa hè năm 1998, tôi sang Pháp theo lời mời của vợ chồng cô em gái và cùng chung sống với họ trong trụ sở của Đại sứ quán Việt Nam tại Paris. Chị em chúng tôi may mắn được tham gia một chuyến tham quan miền Nam nước Pháp do Công đoàn Đại sứ quán Việt Nam tổ chức. Khi đến thành phố Marseille, chúng tôi được Chi hội Người Việt Nam tại Pháp ở đây giới thiệu qua về câu chuyện tình cảm động của bà Trần thị Quý và ông Michel Bouteille. Chúng tôi đã dành một buổi chiều đến thăm ông bà Bouteille tại nhà riêng, được nghe chính ông và bà kể lại câu chuyện tình của mình bằng cả tiếng Pháp và tiếng Việt, đồng thời được xem quyển sách ảnh (cỡ lớn) của gia đình mà trang đầu là mấy dòng chữ viết tay rất nắn nót bằng tiếng Việt của chính ông Michelle Bouteille:

    “Năm 1938, ở Việt Nam, tôi phải lòng một cô gái thông minh lắm, xinh đẹp lắm. Năm mươi năm sau, tôi cứ yêu cô ấy như ngày xưa”!

    Bỗng nhiên, tôi nẩy ra mấy vần thơ, chép tặng ngay đôi vợ chồng Pháp-Việt có mối tình “kết nên thơ” với tất cả lòng cảm mến và thán phục của tôi:

    “Đằng đẵng ba lăm năm đợi chờ

    Gặp lại nàng anh ngỡ trong mơ

    Người xưa nghĩa cũ còn nguyên mới

    Duyên tình Pháp-Việt kết nên thơ!”

    Và tôi ngỏ ý muốn viết một cuốn sách về câu chuyện tình cảm động của hai ông bà. Được biết tôi là một nhà văn, ông bà Bouteille rất vui và hứa sẽ chuẩn bị tài liệu để cung cấp cho tôi viết. Thế rồi, trong thời gian công tác tại Đại sứ quán Việt Nam ở Paris, vợ chồng em gái tôi đã nhiều lần chuyển về cho tôi những tài liệu của ông bà Bouteille gửi: đó là những bức ảnh gia đình, ảnh hai ông bà thời trẻ, lúc già…, những lá thư của người thân gửi cho bà Quý, những bài thơ “tâm trạng” (mới tập viết) của bà Quý…, đặc biệt trong đó có hai tập ghi chép dưới dạng hồi ký (hàng mấy chục trang) của ông(bằng tiếng Pháp) và của bà(bằng tiếng Việt).

    Bà Quý đã nhiều lần gọi điện về động viên tôi, viết thư kể với tôi về những chuyến du ngoạn và về đám cưới của hai ông bà…Bà còn gửi cho tôi những coupon, “thêm vào chút tiền trang trải thư đi, thư về” (chữ dùng của bà).

    Trong năm 1999, giữa tôi và bà Quý đã có những thư trao đổi, bàn về thể loại, bố cục, và nội dung của cuốn sách, trong đó, chúng tôi đã thống nhất sử dụng thể loại tiểu thuyết, có sự thay đổi nhiều tên đất, tên người và hư cấu nhiều chi tiết…

    Tháng 12 năm 2000, tại Hà Nội, bản thảo cuốn tiểu thuyết viết về ông bà Quý của tôi hoàn thành, tôi đã gửi sang Marseille để ông bà Quý xem và góp ý kiến. Trong thư gửi về và cả qua điện thoại, bà Quý rất vui, song cũng tỏ ra có chút áy náy rằng có những điều bà mong muốn mà chưa thực hiện được (chẳng hạn chuyện góp tiền xây dựng trường tiểu học cho quê nội, quê ngoại, chuyện đưa cả chồng, con, cháu hồi hương …) nay viết thế liệu có bị mang tiếng?…Khi nghe tôi giải thích: đây là tôi viết tiểu thuyết thì có nhiều chỗ hư cấu (nghĩa là bịa, không thật) chứ tôi không viết hồi ký (là hoàn toàn thật) của ông bà, bà đã yên tâm hẳn.

    Đầu năm 2005, tiểu thuyết “Chuyện tình viên phó sứ” của tôi được Nhà xuất bản Phụ Nữ chính thức phát hành với Giấy chấp nhận KHXB số:82/19/XB-QLXB ký ngày 11-1-2005. In 1000 cuốn, khổ 13x19cm, tại xưởng in Công ty Thanh Xuân. In xong và nộp lưu chiểu quý I năm 2005.

    Cuốn tiểu thuyết này ngay khi mới phát hành đã gây xúc động trong đông đảo bạn đọc. Dịch giả Phan Văn Cát đã viết bài giới thiệu bằng cả tiếng Việt và tiếng Pháp trên tờ “Hữu nghị Việt- Pháp”, số 5-2005 (bản tin của Hội Hữu nghị Việt- Pháp) với nhan đề: “Một thiên tình sử Pháp-Việt tuyệt vời”. Độc giả Lê Đình Tụ 86 tuổi (hồi năm 2005) là người cùng quê với bà Quý (hiện ở Quảng Ninh) đã viết thư cho ông bà Bouteille và gửi thư bằng cả hai thứ tiếng (Việt-Pháp) cho tôi (tác giả).

    Ông viết: “…Tôi đã đọc đi đọc lại tỷ mỉ, kỹ càng nhiều lần cuốn tiểu thuyết tuyệt vời của “toi” (“Chuyện tình viên phó sứ”). Tôi thực sự cảm động sâu sắc trước lòng chung thủy đáng ngưỡng mộ và nghị lực bất khuất của bà Quế dành cho người yêu khác giống (viên phó sứ Michel Butée). Bà đã phải vượt qua vô vàn khó khăn trong cuộc sống vật chất và tình cảm thời gian dài hơn 1/3 thế kỷ…Ông Michel quả là một con người chân chính…Ông đã dũng cảm vượt qua mọi trở ngại để bảo vệ mối tình của mình với người yêu, một thôn nữ nghèo, một cô bé chăn trâu yếu đuối, một đào hát bình dị thuộc tầng lớp xã hội thấp kém.

    Cuối cùng chính tình yêu tuyệt vời và chung thủy của họ, lòng kiên nhẫn phi thường, nỗi chờ đợi không mệt mỏi, nghị lực không gì lay chuyển nổi của họ đã chiến thắng. Cặp uyên ương đó đã xây dựng thành hạnh phúc gia đình, cuộc sống chồng vợ mãi mãi bên nhau…”.

    (Thư gửi tác giả).

    Và: “…Nhưng sau cùng, kết thúc cuốn tiểu thuyết đó đã hoàn toàn làm hài lòng bạn đọc: một kết luận tuyệt vời và quý giá! Không phải tác giả tạo ra kết luận đó mà chính lòng chung thủy đáng quý của ông bà, nghị lực không gì lay chuyển nổi của ông bà, lòng kiên nhẫn phi thường của ông bà đã tạo nên kết luận đó, như câu châm ngôn đã nói: “Hết cơn bỉ cực –đến tuần thái lai”.

    Tôi đã khóc trước nỗi thống khổ của cô Mật đã phải chịu đựng thời thơ ấu trong cảnh nghèo nàn không thể tưởng tượng nổi! Tôi lại khóc khi đọc đến những dòng tả cảnh mẹ con bà Quế gặp nhau dù chỉ bằng vài từ than: “Zenna! Có phải Zenna không?” Hai mẹ con ôm choàng lấy nhau nức nở! Ôi! Những giọt nước mắt khổ đau quyện vào niềm vui hạnh phúc!

    Nước mắt tôi lại một lần nữa rơi nhiều hơn khi ở sân bay Degaul vào lúc ông Michel Butée ôm người yêu thì thầm: “Ôi! Tôi nhớ mình quá! Quế yêu dấu! Mình vẫn như xưa!”…

    Trong sâu thẳm tâm hồn tôi rung lên thiết tha và mãnh liệt tiếng nói của đồng cảm để chia sẻ nỗi bất hạnh cũng như niềm vui hạnh phúc của ông bà”…
    (Thư gửi ông bà Bouteille)

    Độc giả Phan thị Minh ở Đà Nẵng, con gái cố học giả Phan Khôi đã viết bài thơ “Cảm đề chuyện tình Pháp-Việt” . Độc giả Lương Đăng Trình ở tỉnh Bình Định đã làm ba bài thơ bày tỏ cảm xúc của mình về từng nhân vật chính và mối tình “đẹp như trăng rằm” của hai người để nhờ chuyển cho ông bà Bouteille.

    Cuốn tiểu thuyết “Chuyện tình viên phó sứ” đã được gửi sang Pháp cho ông bà Bouteille và ông bà đã có thư bằng tiếng Pháp cảm ơn tôi (tác giả). Ông Bouteille cũng đã có thư hồi âm bằng tiếng Pháp gửi ông Lê Đình Tụ. Từ đó đến nay, tôi vẫn giữ liên lạc với bà Quý và gia đình một người em họ của bà Quý hiện đang sinh sống tại Hà Nội. Vào dịp kỷ niệm Cách mạng tháng Tám-2005, đoàn truyền hình đi theo Thủ Tướng Phan Văn Khải (có phóng viên trẻ Quang Minh) đã về tận Marseille trò chuyện và ghi hình về ông bà Bouteille (đôi vợ chồng Pháp -Việt có cuộc tình đã đi vào tiểu thuyết), dài 45 phút. Về nước, rút gọn thành 7 phút, phát nhiều lần trên VTV1, VTV3 và VTV4. Phóng viên Quang Minh đã sang cả hai băng (45’ và 7’) tặng tôi và tôi lại sang cả hai băng hình đó gửi tặng ông bà Michel Bouteille. Khi nghe tin ông Michel Bouteille qua đời, tôi đã gửi thư chia buồn. Bà Quý đã có thư cảm ơn và bày tỏ nỗi niềm tâm sự sau khi chồng mất.

    Tối ngày 25-11-2010, tôi được gia đình người em họ của bà Quý ở Hà Nội báo tin là mới nhận được một cuốn sách tiếng Pháp viết về mối tình của ông bà Bouteille do bà Quý gửi về nhờ đọc xem thế nào, vì bà Quý không đọc được tiếng Pháp. Đó là cuốn sách “À toujours ma concubine” của tác giả Trần thị Hảo, Nhà xuất bản L’ Harmattan, phát hành khoảng tháng 8-2010.

    Gia đình người em họ bà Quý thoạt đầu rất vui vì thấy có người ở Pháp viết sách tiếng Pháp về chuyện tình của anh chị mình, đã gửi thư điện tử cho Trần thị Hảo với ý định dịch ra tiếng Việt. Nhưng sau khi dịch xong hai phần đầu của cuốn sách “ À toujours ma concubine” thì nhận ra cuốn sách này chỉ là bản dịch của cuốn tiểu thuyết “Chuyện tình viên phó sứ” mà tôi đã tặng gia đình họ từ mấy năm trước. Anh Linh là con của người em họ bà Quý đã gửi tiếp thư điện tử (lần thứ3) cho Trần thị Hảo, vạch trần việc giả mạo này và yêu cầu Hảo giải thích, nhưng Hảo không trả lời.

    Bức xúc trước sự việc đó, anh Linh đã gọi điện thoại cho tôi, kể lại sự việc. Tôi đã đến nhà riêng anh Linh để mượn cuốn sách của Trần thị Hảo, ở đó, tôi được bà cụ mẹ anh dịch cho nghe nhiều đoạn tiếp theo (trong phần chưa dịch). Tôi lại cũng đã đưa cho mấy người giỏi tiếng Pháp dịch cuốn sách “À toujours ma concubine” để so sánh với cuốn “Chuyện tình viên phó sứ” của tôi. Họ đã thống kê giúp tôi: trong tổng số hơn 160 trang viết của cuốn “À toujours ma concubine” (không kể các trang trắng và tiêu đề) thì có tới gần 125 trang là dịch nguyên văn từng câu, từng chữ hoặc phỏng dịch từ cuốn tiểu thuyết “Chuyện tình viên phó sứ”.

    Rõ ràng Trần thị Hảo là người dịch cuốn tiếng Việt của tôi xuất bản năm 2005 nhưng lại mạo nhận là tác giả viết cuốn sách bằng tiếng Pháp! Rõ ràng Trần thị Hảo đã ăn cắp trí tuệ và văn phong của tôi, vi phạm bản quyền tác phẩm của tôi rất nghiêm trọng và dốt nát, dịch cả tên người, tên đất tôi bịa ra, dịch cả rất nhiều, rất nhiều những tình tiết tôi đã hư cấu, sáng tạo…Nói thẳng ra, tôi đã bị Trần thị Hảo đoạt quyền tác giả một cách hết sức trắng trợn!

    Tôi xin gửi kèm theo đây những tài liệu liên quan đến quá trình sáng tác tiểu thuyết “ Chuyện tình viên phó sứ”(mà tôi có nói tới trên đây) và những bức thư điện tử ngoan cố chối tội vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc về bản quyền của Trần thị Hảo trong những cuộc trao đổi giữa thị với anh Ngô Gia Linh và với Báo Khoa học và Đời sống: “Câu chuyện tôi viết về bác Quý là câu chuyện thực hoàn toàn, tên thực, người thực, ảnh thực và kể cả chuyện con cái đều thực” (Thư gửi anh Linh)…

    Tôi thiết tha đề nghị các nhà văn, nhà báo cùng quý bạn đọc lên tiếng phê phán nghiêm khắc để góp phần ngăn chặn tệ nạn vi phạm bản quyền và bảo vệ cho tôi quyền lợi hợp pháp chân chính về bản quyền tác giả.

    Xin chân thành cảm ơn.

    NGUYỄN THỊ MỸ DUNG

    Hội viên Hội Nhà Văn Hà Nội

  • admin MonsterID Icon admin

    Truyện tình này làm tôi nhớ đến một câu chuyện (thật 100%) về một “anh hùng thầm lặng” người Pháp có vợ VN, với kết cục buồn hơn nhiều:

    Hồi mới đến Toulouse, tôi thuê một căn hộ trong một khu nhà có một bà người Việt đã nhiều tuổi, sống cùng với chồng người Pháp và một ông con trai (ông con trai này có lẽ còn nhiều tuổi hơn tôi). Ông bà này rất hiền lành, ít nói. Thỉnh thoảng tôi có gặp hỏi chuyện xã giao vài câu. Và thỉnh thoảng tôi có cho bà các tạp chí tiếng Việt mà tôi đã đọc để bà đọc, vì bà “không đọc được tiếng Tây”, tuy đã lấy chồng Tây nhiều năm. Khi tôi có 1 cái xe ô tô cọc cạch, cần sửa chỗ hút xăng, thì ông cũng ra xem rồi khuyên nên sửa thế nào.

    Ở lâu thì có dịp tìm hiểu kỹ hơn. Ông này là lính tẩy của Pháp ngày xưa ở VN. Nhưng sau đó lại theo Việt Minh, vào rừng chiến đấu chống lại quân thực dân, lấy vợ VN. Sau năm 54, ông bà về Pháp, thì ông bị đi tù vì tội “phản quốc” vài năm, rồi ra tù làm công nhân. Gia đình ông bà này có 2 người con, 1 trai 1 gái. Cô con gái thì lấy chồng có con, rồi bị ung thư chết. Anh con trai thì bị bệnh mất sức lao động, hình như đã lấy vợ rồi bỏ vợ, sống với bố mẹ. Anh này hiền nhưng bị trầm cảm và nghiện hút.

    Ông chồng mấy năm sau bị bệnh và chết. Sau đó bà có nhờ tôi viết thư cho Đại Sứ Quán VN xin trợ cấp, với lý do là nhà bà quá túng thiếu (mà đúng thế thật, có mấy người sống với nhau không có khả năng làm việc, và hưởng trợ cấp xã hội Pháp loại thấp vì không phải diện “ưu ái” gì – có mấy lần bà phải hỏi vay tôi một hai chục euro vì hết sạch tiền mua đồ ăn, tôi đưa cho, gọi là “cho vay” nhưng thực chất là cho), mà lại là gia đình có công với cách mạng Việt Nam từ thời chống Pháp. Tôi có nhờ Hội VN (có quan hệ tốt với ĐSQ) viết thư lên ĐSQ xin xét trợ cấp cho bà. Thư có được gửi đi, kèm theo copy của một số giấy tờ chính thức ghi nhận công lao của ông với cách mạng VN (do chính phủ VN gửi cho ông trong những năm trước, có chữ ký của mấy nhân vật cao cấp). Có điều tuyệt nhiên không thấy hồi âm!

  • Le Nhu Minh Tue MonsterID Icon Le Nhu Minh Tue

    Một câu chuyện buồn cảm động nhưng lột tả đầy đủ sự khắc nghiệt của cuộc sống ko phải ai ở hiền đấu tranh cho lẽ phải cũng gặp lành. Nhưng hầu hết mọi người ai cũng lấy tiêu chuẩn đó làm niềm tin và hi vọng cho cuộc sống tốt đẹp hơn và nhiều niềm vui hơn. Đó là điều đáng quý nhất. Chúc gia đình bác ấy và giáo sư có 1 năm mới đầy ấm áp, dồi dào sức khỏe.

  • bích phượng MonsterID Icon bích phượng

    Đọc cái tựa “A toujours ma concubine” của bà Trần Thị Hảo, tôi đã giật mình.

    Theo tôi, cái vụ luộc văn này nó cũng “tinh tế” lắm. Lõi thì luộc 3/4 nội dung tiểu thuyết “Chuyện tình viên phó sứ” của Nguyễn Thị Mỹ Dung, còn tựa thì luộc 3/4 tựa phim “Adieu ma concubine” (Bá Vương biệt cơ) của Trần Khải Ca, từn đoạt Cành Cọ Vàng năm 1993.

    Về mặt luật pháp, nhái “tựa” của tác phẩm khác không phải là phạm luật. Nhưng về mặt chuyên môn, người trong nghề rất kỵ. Tên tác phẩm cũng yêu cầu phải độc nhất như tên tác giả. Nếu không cùng một tác giả thì khi đặt tên tác phẩm, người ta chỉ cố tình gợi lại tựa của một tác phẩm khác trong trường hợp muốn đặt lại vấn đề của tác phẩm đó, tức là hai tác phẩm phải có ít nhất một điểm chung nào đó. Chứ còn nhái kiểu “Adieu ma concubine” thành “A toujours ma concubine” này là nhái kiểu ăn theo. Bị cười chứ chẳng được khen bao giờ.

  • Hà Đăng MonsterID Icon Hà Đăng

    Chào các anh chị, tôi rất cảm kích trước lời nhận xét thẳng thắn và tinh tế của các anh chị. Việc các anh chị hiểu đúng bản chất sự việc và giúp bà Nguyễn Thị Mỹ Dung chẳng khác nào nhân vật Lục Vân Tiên, thấy việc bất bình chẳng tha.
    Tôi được biết Tiến sỹ Trần Thị Hảo về nước trình bày với mọi người và bà Nguyễn Thị Mỹ Dung rằng lỗi của thị là đã nghe bà Quý (nhân vật nguyên mẫu)xui sử dụng tác phẩm của bà Dung để viết chứ không biết là không được làm như vậy. Hỏi rằng một giáo sư tiến sỹ văn học, nói như vậy có nghe được không ?
    Hảo về nước đã làm được một việc là đến các tòa báo, vác chồng làm Đại sứ ra dọa và nhờ tới “lãnh đạo báo chí”,vì chồng đã từng ở Vụ báo chí Bộ ngoại giao. Các phóng viên đang bức xúc viết bài thì tại cuộc giao ban báo chí, một vị lãnh đạo đã nhân danh cá nhân, tự nói rằng bà Hảo đã xin lỗi bà Dung nên các báo dừng không nên đăng tải việc này không thì ảnh hưởng đến quốc thể.
    Không biết lúc thị Hảo ăn cắp chất xám của người khác có nghĩ đến danh dự của chồng là vị Đại sứ Unetsco và danh dự quốc thể không các anh chị nhỉ?

  • bích phượng MonsterID Icon bích phượng

    Bạn bimba đúng là có tài tiên tri thật, đã thấy trước là vụ “luộc văn” này thế nào cũng bị dẹp đi nhẹ nhàng, vì bao nhiêu vụ ăn cắp tiền tỉ, người ta còn thu xếp được nữa là.

    Vớt vát một cái là tuy ít được báo chí nhắc tới, nhưng vụ này nhiều người đã tỏ. Thời đại internet mà! Tuần trước, trong một quán ăn ở Paris (nơi dân VN thường tụ tập và hình như bà Hảo cũng hay ghé), tôi thấy người ta kháo nhau về vụ này và tỏ ý rất bất bình, một bác làm ở quán bảo: “Thật không ngờ, bây giờ không dám nhận làm người quen nữa!”. Mấy người khác nói: “Tội nghiệp ông chồng, chắc sau vụ này, không dám vác mặt ra đường!”.

    Nếu chị Dung muốn, vẫn có thể viết thư thẳng đến nhà xuất bản L’Harmatan để trình bày. Còn chuyện các nhà báo trong nước mà ngại ảnh hworng đến “quốc thể” không đăng tin thì nhờ các blog tư nhân. Bây giờ người ta đọc blog nhiều hơn báo chính thống.

Leave a Reply

You can use these HTML tags

<a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <s> <strike> <strong>

  

  

  

This blog is kept spam free by WP-SpamFree.