Vấn đề bóc lột — bình luận của Nguyễn Quang A

“Tôi tin chắc người lao động trong khu vực tư nhân không bị “bóc lột” bằng ở khu vực nhà nước, nếu hiểu bóc lột theo nghĩa có ai đó tước đoạt thành quả của mình”

Đấy là câu của TS Nguyễn Quang A trong một bài báo thú vị từ năm 2007 copy lại dưới đây về vấn đề bóc lột và “Đổi mới tư duy của Đảng” (chính thức cho phép Đảng viên làm kinh tế tư nhân), mà tôi đọc được trong khi đi tra tài liệu về “bóc lột”.

Copy từ: http://www.thuvienphapluat.vn/default.aspx?CT=NW&NID=559 (Nguồn: Báo Tuổi Trẻ)

SỰ THAY ĐỔI LỚN TRONG TƯ DUY CỦA ĐẢNG

TS Nguyễn Quang A

Thứ năm, 17/05/2007
TS Nguyễn Quang A

TS Nguyễn Quang A: ” Việc Đảng Cộng sản VN để cho đảng viên được làm kinh tế tư nhân không hạn chế qui mô là một sự thay đổi lớn trong tư duy của Đảng; nó ghi nhận một thực tiễn đã và đang diễn ra từ hai mươi năm qua ở nước ta; việc đảng có kết nạp những người làm kinh tế tư nhân vào đảng hay không là chuyện của cả hai phía, chứ không chỉ ở một bên.

Đảng muốn dân giàu mà lại cứ buộc đảng viên không được làm giàu thì có mâu thuẫn với mục tiêu không?

Ai bóc lột ai ?

Theo giáo sư Nguyễn Đức Bình (Tuổi Trẻ 25-2), người làm kinh tế tư bản tư nhân (tức là có thuê lao động, phân biệt với người làm kinh tế tư nhân cá thể, không thuê lao động) dứt khoát là người bóc lột, là người lấy bóc lột lợi nhuận làm lẽ sống. Họ là những người chăm chăm “làm giàu hết cỡ, làm tư bản tư nhân hết cỡ, có thể bóc lột hết cỡ”. Nhưng anh ta làm giàu hết cỡ thì có gì đáng trách, vì chúng ta đang muốn dân giàu, và Đảng Cộng sản hoan nghênh cơ mà? Vậy bóc lột là gì?

1. Để trả lời các câu hỏi này, cần nhiều trăm trang viết cũng chưa thấu đáo, và tôi e cũng không đạt đến kết quả thống nhất.

TS Nguyễn Quang A sinh năm 1946 tại Bắc Ninh, từng là cán bộ trong quân đội. Năm 1987, sau khi bảo vệ thành công luận án tiến sĩ chuyên ngành điện tử viễn thông tại Hungary, ông A về nước công tác tại Tổng cục điện tử – tin học VN. Sau đó, ông chuyển sang làm việc tại Liên doanh máy tính VN Genpacific.

Năm 1989, ông tham gia thành lập và làm chủ tịch HĐQT Công ty Máy tính truyền thông điều khiển 3C. Năm 1993, ông là một trong những sáng lập viên Ngân hàng ngoài quốc doanh (VP Bank). Ông Nguyễn Quang A cũng từng là chủ tịch Hội Tin học VN.

Theo thiển ý của tôi, qui lợi nhuận của nhà tư bản chỉ dựa vào lao động thặng dư của công nhân (người làm thuê) là một mô hình quá sơ sài không phản ánh sát với thực tiễn. Và quan trọng hơn nó chỉ sát với thực tiễn trong thời kỳ chủ nghĩa tư bản vô độ (hay dã man), nhà nước đã can thiệp, phong trào công nhân đã nổi lên, công nghệ ngày càng phát triển…

Thời chủ nghĩa tư bản man rợ, vô độ, không bị kiềm chế đã qua cả hơn trăm năm rồi. Nhà nước đã đưa ra bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm xã hội, các công đoàn đòi tăng lương, các chủ tư bản cũng hiểu hơn về vai trò của nguồn nhân lực và có chính sách phù hợp (như thưởng, chia sẻ lợi nhuận, quyền mua cổ phần, đào tạo, tái đào tạo…) để giữ và nâng cao nguồn nhân lực.

Thời xưa, Marx tin rằng nạn thất nghiệp về cơ bản là một dụng cụ của cơ chế tư bản chủ nghĩa với chức năng giữ đồng lương thấp, và để làm cho việc bóc lột công nhân làm thuê được dễ hơn; sự nghèo khổ tăng lên luôn là sự nghèo khổ tăng lên của các công nhân làm thuê. Và từ đó Marx tiên tri rằng các nhà tư bản giàu lên mãi mãi, giai cấp công nhân bị bần cùng mãi mãi đến mức không thể chịu nổi phải đứng lên làm cách mạng vô sản lật đổ chế độ tư bản.

Nhưng hiện nay mức sống của các công nhân làm thuê đã tăng lên ở khắp nơi; và lương thực tế của các công nhân làm thuê thậm chí có xu hướng tăng lên trong suy thoái (như trong đại suy thoái 1927-1928), do một sự giảm sút nhanh hơn về giá so với về lương. Những tiến triển gần đây ở các nước phát triển cho thấy số người làm thuê bước vào tầng lớp trung lưu ngày càng đông, họ được bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế ở mức chưa từng có.

Hãy thử nhìn mức thu nhập tối thiểu, mức trợ cấp của họ. Nói cách khác, mức thu nhập sàn đã tăng lên nhanh và tăng lên đáng kể, không có trần thu nhập; điều này chứng minh rằng gánh nặng chủ yếu của bảo hiểm thất nghiệp không phải do các công nhân gánh chịu mà do các chủ doanh nghiệp, những người vì thế đã mất mát một cách trực tiếp qua thất nghiệp, thay cho kiếm được lời một cách gián tiếp, như trong sơ đồ của Marx.

Bóc lột là gì?

Chỉ cần lên Internet, vào Google và gõ từ “exploitation” (sự bóc lột) trong vòng 0,1 giây chúng ta có hàng chục triệu mục liên quan đến sự bóc lột, trong đó có hàng ngàn định nghĩa khác nhau về bóc lột.

Vào Wikipedia (Bách khoa toàn thư mở) ta thấy chi tiết định nghĩa marxist, định nghĩa tân cổ điển, định nghĩa tân tự do về bóc lột. Trong mục bóc lột của Bách khoa thư đại học Stanford có liệt kê 16 định nghĩa khác nhau của các học giả về bóc lột, trong đó có hai định nghĩa theo cách tiếp cận marxist. Bóc lột gắn với giao dịch giữa hai tác nhân A và B. Các định nghĩa trên đều có nét chung là: A (kẻ bóc lột) bóc lột B (người bị bóc lột) khi A lợi dụng B một cách không công bằng.

Các nhà marxist nói về bóc lột đại thể như sau: nhà tư bản (A) bóc lột người làm thuê (B) bằng cách chỉ trả B đồng lương (tương ứng với thời gian lao động cần thiết) bằng giá trị tái tạo ra sức lao động của B trong khi B phải lao động dài hơn thời gian đó. Giá trị tương ứng với hiệu của tổng thời gian lao động và thời gian lao động cần để tái tạo sức lao động được Marx gọi là giá trị thặng dư. Nói cách khác, bóc lột là bóc lột giá trị thặng dư, và đó là nguồn duy nhất của lợi nhuận của nhà tư bản. Tôi không đi sâu chi tiết, chỉ muốn gợi ý rằng vấn đề cho đến nay cũng chưa ngã ngũ về bóc lột là gì.

TS NGUYỄN QUANG A

2. Người làm kinh tế tư nhân tạo công ăn việc làm cho những người khác. Mỗi năm ở VN cần tạo ra khoảng 1,5 triệu việc làm mới. Tuyệt đại đa số việc làm mới do khu vực tư nhân tạo ra. Nếu không có khu vực tư nhân thì chẳng hiểu tai họa thất nghiệp sẽ đến mức nào?

3. Người làm kinh tế tư nhân là người lao động nặng nhọc. Tôi thấy họ là những người lao động cật lực (có thể không phải lao động chân tay). Họ lao tâm khổ tứ, họ chịu rủi ro, họ có thể mất hết cơ nghiệp nếu phá sản. Và chuyện phá sản là chuyện xảy ra bình thường ở mọi nơi.

Ai cũng công nhận vốn (tư bản) phải tạo ra lãi. Người dân gửi tiền tiết kiệm làm gì nếu không vì đồng lãi, không vì chuyện sinh lời. Như thế vốn phải sinh lời. Có vốn bằng tiền (ta thường chỉ hiểu thế), ngày nay người ta nói đến vốn xã hội, vốn tri thức…, chúng cũng góp phần tạo ra lời, chứ không chỉ có lao động. Lao động hết sức nặng nhọc của người chủ doanh nghiệp thì sao?

Hãy xem Bill Gates, Michael Dell hay thậm chí Soros có là người bóc lột hay không? Họ là những người làm nên sự nghiệp từ hai bàn tay trắng với cái đầu siêu việt của họ. Họ lao động cật lực và kiếm được rất nhiều tiền. Họ tạo ra công ăn việc làm cho hàng chục triệu người, trực tiếp và gián tiếp. Họ dùng phần lớn thu nhập của mình làm từ thiện, để giải quyết các vấn đề đau đầu của nhân loại như bệnh sốt rét, bệnh HIV, xóa đói giảm nghèo.

Thử hỏi Cụ Hồ sẽ gặp khó khăn ra sao nếu cụ Trịnh Văn Bô, với tư cách nhà doanh nghiệp tư nhân và các nhà công thương khác, không đóng góp hàng ngàn cây vàng cho Chính phủ lúc khó khăn năm 1945?

Tất cả họ có là bọn bóc lột đáng nguyền rủa không? Đành rằng cũng có một số ít kẻ làm kinh tế tư nhân tiêu xài hoang phí, chỉ dựa vào vốn liếng do cha ông làm ra mà không chăm chú phát triển kinh doanh. Chúng chẳng thể sống lâu, với các loại thuế tài sản, thuế thu nhập, thuế thừa kế mà tất cả các nước đã đưa ra, chúng chỉ nướng gia sản của cha ông mà thôi. Số đó là số ít.

Ở nước ta số những kẻ chẳng được hưởng gia tài của cha ông, cũng chẳng phải làm kinh tế tư bản tư nhân mà tiêu xài vô độ như các con cháu các quan chức và một số người có chức có quyền mới thật đáng kinh ngạc.

Vấn đề điều tiết thu nhập lại là chuyện khác. Các nước người ta đánh thuế mọi loại thu nhập, người ta đánh thuế tài sản, đánh thuế thừa kế để làm sao đảm bảo cho mức thu nhập tối thiểu ngày càng tăng lên mà không phản khuyến khích người làm giàu. Những người thừa kế nếu không biết vun đắp cho công lao của cha ông không mấy chốc có thể nướng hết tài sản tích tụ được.

4. Hiện nay ai bóc lột ai? Đây là câu hỏi lý thú mà các nhà nghiên cứu nên làm rõ. Tôi tin chắc người lao động trong khu vực tư nhân không bị “bóc lột” bằng ở khu vực nhà nước, nếu hiểu bóc lột theo nghĩa có ai đó tước đoạt thành quả của mình. Bọn tham nhũng – và họ toàn là những kẻ có chức có quyền – đang bóc lột thậm tệ người dân ta.

5. Vấn đề là hai chiều chứ không phải chỉ có từ phía Đảng “hạ thấp tiêu chuẩn” để cho những người làm kinh tế tư nhân có thể vào Đảng, không phải chỉ như giáo sư nhận xét về họ rằng: “Trái lại, họ vào Đảng cốt tìm kiếm chỗ dựa quyền lực để dễ bề làm ăn, kinh doanh.

Ta biết rằng thời nay quyền lực và tiền bạc, tiền bạc và quyền lực thường dễ móc nối với nhau ranh ma quỉ quái thế nào. Và thật vô cùng nghịch lý khi nghĩ rằng kết nạp cả tư sản để mở rộng cơ sở xã hội, cơ sở quần chúng cho cách mạng XHCN!”. Tôi nghĩ luôn có những kẻ cơ hội như vậy, nhưng đa số không thế.

Tôi tin tỉ lệ bọn cơ hội là người làm kinh tế tư nhân nhỏ hơn nhiều so với trung bình hiện nay trong đảng. Bọn mua quan bán chức, bọn chạy chọt ghế, trong số chúng có tên nào làm kinh tế tư nhân không? Tôi cam đoan không có. Thế mà số bọn chúng thì nhiều như quân Nguyên. Giáo sư nghĩ sao? Và những người làm kinh tế tư nhân, chắc đâu họ đã muốn vào đảng!

Tóm lại, việc Đảng Cộng sản VN để cho đảng viên được làm kinh tế tư nhân không hạn chế qui mô là một sự thay đổi lớn trong tư duy của Đảng; nó ghi nhận một thực tiễn đã và đang diễn ra từ hai mươi năm qua ở nước ta; việc đảng có kết nạp những người làm kinh tế tư nhân vào đảng hay không là chuyện của cả hai phía, chứ không chỉ ở một bên. Đảng muốn dân giàu mà lại cứ buộc đảng viên không được làm giàu thì có mâu thuẫn với mục tiêu không?

Có rất nhiều vấn đề cần bàn cãi công khai để chúng ta hiểu tình hình hơn, hiểu nhau hơn, để cho đất nước phát triển. Trăn trở của giáo sư, câu trả lời dứt khoát “trước sau tôi vẫn không đồng ý quan điểm trong Đảng có thể có tư bản tư nhân” của giáo sư phải được tôn trọng. Hi vọng những ý kiến khác cũng được tôn trọng.

TS NGUYỄN QUANG A

Nguồn: Báo Tuổi trẻ
Print Friendly

Leave a Reply

You can use these HTML tags

<a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <s> <strike> <strong>

  

  

  

This blog is kept spam free by WP-SpamFree.