Hội nghị COPED hợp tác Pháp-Việt, Paris 17-19/06/2010

Hội nghị COPED hợp tác Pháp-Việt trong Toán-Tin-Cơ Học

Paris 17-19/06/2010

Hội nghị về hợp tác Pháp-Việt trong Toán-Tin-Cơ Học do Ủy ban về các nước đang phát triển (Comité pour les Pays en Développement, viết tắt là COPED) của Viện Hàn Lâm Khoa Học Pháp (trang web: http://www.academie-sciences.fr/comites/COPED.htm) tổ chức đã diễn ra tại tòa nhà của «Fondation Simone & Cino Del Luca» (một quĩ tư nhân tài trợ cho COPED) ở Paris từ ngày 17 đến ngày 19 tháng 6 năm 2010.

Hai người dẫn chương trình chính của hội nghị là ông François GROS (viện sĩ ngành sinh vật, thư ký danh dự vĩnh cửu của Viện Hàn Lâm, chủ tịch COPED), và ông Jean-Pierre CAHANE (viện sĩ ngành toán).

Từ phía Việt Nam có một đoàn đại biểu 14 người đại diện cho nền khoa học và đào tại đại học của Việt Nam, đặc biệt là trong các ngành toán và tin học, đã đến tham dự hội nghị. Hầu hết chi phí đi lại và ăn ở của đoàn được COPED tài trợ. Từ phía Pháp, có nhiều Viện sĩ hàn lâm khoa học của Pháp, cũng như nhiều đại diện khác của giới khoa học Pháp và những người điều hành các chương trình hợp tác với Việt Nam trong các lĩnh vực liên quan đã đến tham dự hội nghị.  Hầu hết những người đến dự đều có đọc tham luận tại hội nghị.

Những tham luận từ phía Việt Nam (cùng với một số ý mà tôi nhớ):

– Ngô Việt Trung (Viện trưởng Viện Toán Học): Lịch sử phát triển toán học Việt Nam. Từ thời Lương Thế Vinh (sách Việt Nam thời đó cũng giống như sách của Nhật Bản cùng thời, và có thể coi là chép lại từ sách Trung Quốc), đến Lê Văn Thiêm (tiến sĩ toán Việt Nam đầu tiên, năm 1945?), Tạ Quang Bửu (một Bộ trưởng vô cùng uyên thâm về toán, tuy chủ yếu là tự học), v.v., cho đến ngày nay. Sự ủng hộ của các nhà toán học Pháp, bắt đầu từ Grothendieck (giải thưởng Fields năm 1966, sang Việt Nam 1 tháng năm 1967 khi Mỹ đang ném bom, và nhận xét là lúc đó Việt Nam đã có một nền toán học).

– Lê Tuấn Hoa (Chủ tịch hội toán học Việt Nam): giới thiệu nền toán học Việt Nam hiện tại. So sánh số lượng công bố của toàn bộ các nhà toán học Việt Nam (kể cả các công bố hợp tác với nước ngoài, và trong thời gian ở nước ngoài) với công bố toán của hai đại học lớn trên thế giới là UC Berkeley và Đại học Toulouse. (Về số lượng, UC Berkeley lớn hơn Toulouse một chút, Toulouse lớn hơn toàn bộ Việt Nam một chút, và Việt Nam hiện được khoảng 200 bài báo toán học một năm. Về chất lượng trung bình thì còn có một khoảng cách xa giữa các đại học tiên tiến và Việt Nam). Có một số nhà toán học VN trong nước đã có số công trình công bố quốc tế lên đến trên 50.

– Phan Hồng Sơn (Giám đốc NAFOSTED — Quĩ Nghiên cứu Khoa học của Việt Nam, được lập ra năm 2008, tương tự như National Science Foundation của Mỹ hay Agence Nationale de Recherche của Pháp): Giới thiệu về NAFOSTED và các công việc mà Quĩ đã làm được trong 2 năm qua. Tiền cấp cho khoa học thông qua NAFOSTED năm vừa rồi là 20M USD. Tiền này làm trợ cấp lương trực tiếp cho các cán bộ nghiên cứu khoa học có đề tài khoa học được xét duyệt (trợ cấp này có thể lớn bằng đến 2 lần mức lương chính thức), tài trợ các chuyến đi công tác bồi dưỡng về khoa học ở nước ngoài (thời hạn dài nhất là 6 tháng), các hội nghị hay trường hè về khoa học, v.v. NAFOSTED đã ký được nhiều hiệp định hợp tác với các tổ chức tương tự ở những nước khác, ví dụ như Đức, Bỉ, Hàn Quốc,  và sẽ họp với ANR và CNRS của Pháp về hợp tác. Sau khi có các thỏa thuận hợp tác này, thì NAFOSTED và đối tác nước ngoài có thể cùng tuyển chọn và tài trợ các dự án hợp tác về nghiên cứu khoa học.

– Nguyễn Việt Dũng (Viện phó Viện Toán Học) cùng với Lionel Schwartz (GS Paris 13, đồng điều hành chương trình hợp tác Pháp-Việt về toán) giới thiệu về dự án thành lập LIA (Labo International Associé) về toán tại Việt Nam. Dự án này nhiều khả năng được chấp thuận, và nếu được chấp thuận sẽ được CNRS cấp kinh phí hoạt động hàng năm, để phục vụ cho việc hợp tác Pháp-Việt về toán, và giúp VN định hướng phát triển toán học và các ứng dụng của toán học. LIA sẽ chia thành 4 hướng chính: 1) tô pô hình học đại số và rời rạc; 2) giải tích và ứng dụng, kể cả giải tích phức, đạo hàm riêng, giải tích số, v.v.; 3) điều khiển và tối ưu; 4) xác suất, thống kê và toán tài chính. (Hướng thứ tư là hướng hiện tại yếu nhất ở VN và cũng có ít hợp tác nhất với Pháp, nhưng được đưa vào như là một trọng điểm cần phát triển ở VN).

– Đỗ Đức Thái (GS toán, ĐHSPHN) cùng Nguyen Tien Zung (GS ĐH Toulouse, đồng điều hành chương trình hợp tác Pháp-Việt về toán) giới thiệu về chương trình Cao học Quốc tế «Master International» về toán ở Hà nội. Chương trình này đã hoạt động được 3 năm, tuyển sinh 20-30 SV mỗi năm. Năm đầu (M1) học ở Hà Nội, và năm thứ hai cao học (M2) học ở nước ngoài theo học bổng 322 của chính phú (phần lớn là đi Pháp, nhưng cũng có đi Đức, Mỹ, Italia, …). Hai nơi chủ trì ở VN cho chương trình này là Viện Toán và ĐHSPHN. Khóa đầu tiên có 11 SV đi Pháp (học M2 ở Pháp năm 08-09), tất cả đều tốt nghiệp, trong đó có 9 người tiếp tục làm NCS (1 ở Mỹ, 1 ở VN, 7 ở Pháp), còn 2 người làm phụ giảng ở 2 trường ĐH ở VN. Khóa 2 có 15 SV VN đi Pháp (+ 1 SV người Pháp sang VN học M1 rồi về Pháp tiếp tục học M2), kết quả nói chung là tốt và đều muốn làm tiếp NCS, khả năng là hơn 2/3 sẽ có học bổng NCS của Pháp, số còn lại sẽ phải về VN tìm các nguồn học bổng khác.  Khóa 3 (09-10 ở VN) dự kiến sẽ có 17 SV đi  Pháp. Hiện tại các học sinh đi Pháp đang tập trung tại một sốt ít trường bên Pháp, nhưng cho những năm tới sẽ phải trải ra thêm các trường khác để khỏi «quá tải». Chương trình MI này có thể coi là rất thành công (chất lượng SV và kết quả đạt được rất tốt), cần duy trì và phát triển.

– Dương Minh Đức (GS toán ĐH Quốc Gia HCM) và Nguyễn Hội Nghĩa (Phụ trách đào tạo của ĐH Quốc Gia HCM) cùng với Michel Zinsmeister (GS ĐH Orleans, phụ trách mảng toán của PUF) giới thiệu về PUF (Pole Universitaire Français) ở Việt Nam nói chung, và về ngành toán ở TP HCM trong chương trình PUF nói riêng. Chương trình PUF do Bộ ngoại giao Pháp tài trợ, và  các học sinh học cao học PUF có được sang Pháp thực tập. Tuy nhiên các SV theo chuyên ngành toán tài chính của PUF này lại không tìm được nơi thực tập ở Pháp do hiện ở Pháp có nhiều SV Bách Khoa Paris theo ngành này, SV VN không cạng tranh được. Từ năm sau tạm ngừng toán tài chính ở PUF HCMCity, do không tìm được chỗ thực tập ở Pháp. (Tuy nhiên ngành toán tài chính đang rất cần ở VN, và có thể tìm chỗ thực tập ở VN). GS Dương Minh Đức còn có một tham luận nhan đề «Hợp tác Pháp-Việt trong những vấn đề cu thể ở Việt Nam» (đây là nói về tương lai, hy vọng sự hợp tác sẽ góp phần giải quyết các vấn đề cụ thể tại Việt Nam, và có ý là nếu các nhà toán học tham gia làm các vấn đề cụ thể thì có thể thu hút được đầu tư tài chính lớn cho nghiên cứu)

– Đinh Dũng (GS Viện Công nghệ thông tin thuộc Đại học Quốc gia HN) cùng với Michel Théra (Hiệu phó ĐH Limoges của Pháp) giới thiệu về các đề tài toán ứng dụng và những người làm toán ứng dụng chủ chốt tại Việt Nam. Đây là «toán ứng dụng» nhưng chưa phải «ứng dụng của toán», tức là những chuyên ngành toán thường được liệt vào «toán ứng dụng», tuy nhiên việc nghiên cứu ở VN trong những chuyên ngành này chủ yếu dừng lại ở lý thuyết trừu tượng.

– Bùi Văn Minh (Trợ lý Hiệu trưởng ĐH công nghệ thông tin TP HCM phụ trách quan hệ quốc tế; từng sống và làm việc ở Pháp lâu năm, rồi về VN làm việc sau khi nghỉ hưu tại Pháp) giới thiệu về ngành công nghệ thông tin tại VN, và về ĐH CNTT HCM.

– Trần Lộc Hùng (Hiệu phó ĐH Huế) giới thiệu về chuyên ngành xác suất và thống kê ở VN.

(Ngành XS&TK ở VN đang rất yếu, cần chú trọng phát triển)

– Nguyễn Cảnh Lương (Hiệu phó ĐH Bách Khoa HN) giới thiệu về đào tạo toán ở ĐHBK.

– Vũ Hoàng Linh (Trưởng khoa toán ĐHTN, ĐHQG HN) và Nguyễn Hội Nghĩa (TP HCM) giới thiệu về việc đào tạo tiến sĩ toán tại VN, trong đó có cả «sandwich PhD» (NCS có hai người hướng dẫn: 1 ở VN và 1 ở nước ngoài).

– Đinh Thành Đức (Hiệu phó ĐH Qui Nhơn) nói về vấn đề các trung tâm nhỏ (tại các ĐH nhỏ của VN) và sự cần thiết giúp đỡ các trung tâm đó, cũng như các cách giúp đỡ. (Tham luận làm chung với Marcel Morales, GS tại đại học Grenoble).

Trong số các tham luận từ phía Pháp (ngoài các tham luận chung Việt-Pháp đã nêu):

– Jean Salençon (Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học Pháp) đến chào mừng hội nghị hôm đầu tiên, và giới thiệu về Viện Hàn Lâm (cùng với ông Robert Parienti, đại diện của FIRAS: http://www.academie-sciences.fr/fondations/FIRAS.htm)

– Eric Damouroux (Vụ Khoa học Công nghệ, Bộ Ngoại Giao Pháp) điểm qua các hợp tác Pháp-Việt trong khoa học (mà có sự hỗ trợ từ Bộ Ngoại Giao).

– Stéphane Jaffard (Chủ tịch Hội toán học Pháp SMF) giới thiệu về SMF và hợp tác quốc tế của SMF.

– Alain Damlamian (cựu Chủ tịch hội toán ứng dụng Pháp SMAI) giới thiệu về SMAI và vai trò của SMAI trong hợp tác Pháp-Việt.

– Pierre Auger (viện sĩ ngành tin học, giám đốc UMMISCO – Lab nghiên cứu phát triển quốc tế được IRD – Bộ ngoại giao tài trợ) nói về «modelisation of complex systems». UMMISCO có chi nhánh tại một số nước khác (Marocco, Senegal) và có cả người VN (tại IFI), đang mong muốn lập một chi nhánh tại một đại học lớn ở VN. Các vấn đề nghiên cứu là các vấn đề ứng dụng toán học, liên quan đến mô hình hóa bằng toán, tin học, sinh vật, v.v. (ví dụ như vấn đề đánh bắt cá). Những nhà khoa học Pháp đi làm việc ở nước ngoài trong khuôn khổ UMMISCO/IRD được hưởng chế độ đặc biệt do Bộ Ngoại Giao chi tiền. UMMISCO cũng có thể nhận nghiên cứu sinh VN. Ông Auger muốn thiết lập một chi nhánh mới ở VN, tại một trường ĐH nào đó, có các nhà toán học tham gia (làm ứng dụng toán học) kết hợp với tin học. Rút kinh nghiệm IFI (đang mất vị thế ở VN).

– Bùi Huy Đường (Việt kiều tại Pháp, Viện sĩ Hàn lâm Pháp ngành cơ học) phát biểu về tầm quan trọng kinh tế và chính trị của hợp tác khoa học, và có nói đến một số vấn đề cụ thể (điện nguyên tử, sông Mê Kông, …). Trần Bằng (một TS trẻ học Bách Khoa Paris ngành hàng không, hiện đang ở lại làm việc ở Paris) cũng góp 1 tham luận về hợp tác kinh tế thông qua hợp tác khoa học.

– Philippe Baptiste (giám đốc viện tin học INS2I thuộc CNRS) giới thiệu về chính sách hợp tác quốc tế của INS2I. Có nói đến MICA (Lab tin học ở ĐHBKHN hợp tác với INS2I) và HUST (Hanoi Univ. of Science and Tech. – đại học Việt-Pháp mới thành lập năm 2009).

– Nguyen Tien Zung (Prof. Toulouse) giới thiệu về dự án ARCUS. Đây là một dự án của Bộ Ngoại Giao Pháp kết hợp với Ile-de-France và Midi-Pyrenées về hợp tác khoa học với VN trong vòng 3 năm. Có 6 ngành lớn trong đó, ứng với 6 ngành của HUST (Hanoi Univ. of Science and Technology) trong đó có ngành «Toán-Tin Học». Ông Sebban hiệu trưởng HUST cũng là một trong hai coordinator chung của dự án này. Về ngành toán thì có L. Schwartz và NT Zung làm coordinator dự án. Tiền của dự án (phần toán) sẽ được dùng để chi cho các hoạt động hợp tác Pháp-Việt trong mọi chuyên ngành về toán, trong đó ưu tiên các chuyên ngành đã chứng tỏ là hợp tác có hiệu quả (ví dụ như giải tích phức, tô pô đại số, tối ưu), và các chuyên ngành hiện chưa có hợp tác mạnh nhưng đặc biệt cần phát triển ở VN (như xác suất thống kê, toán tài chính, mô hình hóa). Dự án này về phần toán cũng có thể coi như là một bước đệm cho dự án thành lập Labo Pháp-Việt về toán, và là tiếp nối của ForMathVietNam (chương trình hợp tác Pháp-Việt về toán, được hình thành từ quãng 1995, với sự khởi xướng và điều hành qua các năm từ phía Pháp của Frédéric Pham, Nguyễn Thanh Vân, Bernard Malgrange, Jean-Pierre Ramis, Lionel Schwartz, v.v.). Trong lúc chuẩn bị hồ sơ cho ARCUS có tổng kết lại các kết quả đã đạt được trong hợp tác Pháp-Việt về toán: hơn 70 luận án TS của SV VN tại Pháp về toán theo hợp tác này kể từ 1995, hơn 40 bài báo khoa học quốc tế chung trong 5 năm 2004-2009, các chương trình cao học về toán tại VN do Pháp hỗ trợ, mỗi năm ít nhất 1-2 trường hè hay hội thảo tổ chức tại VN với sự tham gia tích cực từ phía Pháp, v.v.

– Jean-Pierre Bourguignon (viện trưởng viện IHES) giới thiệu về IHES cũng như các trung tâm khác trên thế giới (IAS, RIMS, Max-Planck, CRM Barcelona, IPAM, Schrodinger, Oberwolfach, v.v.), vai trò của chúng trong việc phát triển khoa học. IHES ban đầu chỉ có toán và vật lý lý thuyết, nhưng gần đây mở rộng hoạt động ra sinh vật (kết hợp với các mô hình toán & lý). IHES nhận định là châu Á sẽ phát triển mạnh, và có tổ chức các trường hè Pháp-Á, trong đó cũng có sự tham gia của một số học viên VN. Việc quản lý các hội nghị ngắn hạn (như ở CIRM Luminy) rất khác việc quản lý các hoạt động dài hạn hơn (1 trung tâm không nên vừa là trung tâm hội nghị hàng tuần vừa là chỗ cho các visit dài hạn hơn). Việc kiếm nguồn tài trợ tư nhân là công việc rất vất vả nhưng cũng rất thú vị. Đòi hỏi phài có người giới thiệu ở bậc cao đến các nguồn có thể tài trợ, đòi hỏi phải chuẩn bị thật tốt cái «case» của mình, và cũng cần may mắn. Một ví dụ về may mắn, là Sergey Brin (Google) là con của một nhà toán học (Mikhail Brin ?), và gia đình Brin lại quen thân với Gromov và Bourguignon. Do đó vừa rồi Sergey Brin có đến thăm IHES, và triển vọng có thể tài trợ cho IHES.

– Pierre Sebban (hiệu trưởng HUST – Hanoi Univ. of Science and Tech.) và Marc Gontard (hiệu trưởng ĐH Rennes, và đại diện của CPU — Conférence des Présidents des Universités) giới thiệu về HUST, và sự ủng hộ của CPU cho dự án này.  Dự án đầu tư cho HUST là khoảng 200-250M USD (tiền VN vay nước ngoài). Phía Pháp chủ yếu giúp xây dựng chương trình + cử một số người đến dậy học & xây dựng đội ngũ ở các khoa (có 6 khoa, toàn về công nghệ, không có khoa học cơ bản) + nhận SV & NCS sang Pháp đào tạo để về sau thành giảng viên HUST (học bổng do phía VN cấp), chứ không hỗ trợ nhiều về tài chính (trái ngược với một số thông tin đăng trên báo chí). Có tìm kiếm sự tài trợ từ các doanh nghiệp lớn của Pháp, nhưng hiện tại chưa có doanh nghiệp nào hứa tài trợ gì đáng kể. Bản thân chương trình đào tạo đang còn trong quá trình xây dựng. Ông Sebban có đồng ý với một ý kiến của tôi là HUST gặp khó khăn trong việc tuyển SV giỏi, và không nên thu học phí ít ra trong những năm đầu (nhưng hiện tại HUST vẫn thu, ở mức khá cao so với VN, do Bộ GD-ĐT yêu cầu vậy !) Xung quanh dự án HUST có rất nhiều câu hỏi và sự băn khoăn (đặc biệt là các bình luận ở hành lang không được lạc quan), tuy nhiên do thời gian hạn chế nên không có nhiều thảo luận chính thức về đề tài này. Ông Michel Théra (Hiệu phó ĐH Limoges) có tham luận ngắn về vai trò của Toán và Tin học trong HUST (tuy nhiên, dự án HUST hiện chỉ có khoa tin học chứ không phải là khoa «toán-tin học»).

– Avner Bar-Hen (chủ tịch hội thống kê Pháp) có giới thiệu về hội thống kê Pháp, và tỏ ý sẵn sàng giúp VN phát triển ngành thống kê: đi học hay thực tập tại Pháp, xây dựng hội thống kê của VN, …. (VN đặc biệt yếu về ngành thống kê.  Có 2 người được phong GS về chuyên ngành thống kê là Nguyễn Văn Hữu và Nguyễn Minh Tuấn (?) nhưng cả hai đã về hưu. Viện Toán hiện có 1 chuyên gia duy nhất về thống kê là TS Hồ Đăng Phúc. TS Phúc sau một thời gian gián đoạn trong khoa học (do đói kém phải đi buôn bán ở nước ngoài) quay trở lại Viện Toán và tích cực trở lại trong khoa học, đang cố gắng xây dựng ngành thống kê ở VN, và làm seminar hàng tuần cho các bạn trẻ quan tâm về thống kê. Một phần cản trở cho sự phát triển ngành thống kê xuất phát từ  bản thân giới toán học  chưa coi trọng đúng mức ngành này và chưa coi trọng đúng mức những người làm về thống kê).

– André Zaoui (viện sĩ ngành cơ học của Pháp) có làm 1 báo cáo khoa học khá dài về vấn đề vật liệu không đồng nhất. Vấn đề khoa học có vẻ thú vị, nhưng bị lạc lõng trong một hội nghị chủ yếu bàn về chính sách khoa học.

– Alain Carpentier (Phó chủ tịch Viện hàn lâm Pháp, và là người từng sang VN rất nhiều lần đào tạo đội ngũ bác si mổ tim ở Viện Tim ở VN) có một bài phát biểu chào mừng hội nghị, và nói về những gắn bó Pháp-Việt. (Ngành tim học cũng là ngành có ứng dụng rất lớn của toán. Ví dụ như ông Darryl Holm, một nhà toán học ứng dụng có tiếng, những năm gần đây trở thành chuyên gia về tim, kết hợp cả một đội ngũ các nhà toán học, y học, vật lý, … nghiên cứu về bệnh tim mạch).

Sau các tham luận là đến các thảo luận / tranh luận, và các ý kiến và đề nghị. Buổi cuối cùng, GS Lê Tuấn Hoa và GS Zinsmeister có kết hợp các ý kiến của mọi người thành một danh sách các đề nghị. Theo viện sĩ Cahane, các đề nghị này sẽ được gửi đến Viện Hàn Lâm, và Chính phủ và các Bộ liên quan của hai nước.

Hội nghị được chuẩn bị một cách hơi gấp rút, và có một số thiếu sót đáng tiếc: mời thiếu người (ví dụ như GS Lê Dũng Tráng không được mời, do BTC quên mất chứ không phải là cố tình), thiếu hẳn đại diện ngành cơ từ VN ở hội nghị, ngành tin học phía VN cũng quá ít đại diện, chương trình hội nghị chuẩn bị cập rập, in tên thiếu và sai, ĐSQ Việt Nam có đăng ký đến dự rồi lại không đến. Tuy nhiên, nhìn chung, có thể coi là hội nghị đã rất thành công trong việc điểm lại tình hình hợp tác với VN và vạch ra phương hướng cho giai đoạn mới. Sự tham dự của phía Pháp rất nhiệt tình (rất nhiều viện sĩ và các nhân vật cao cấp khác trong giới khoa học Pháp), và hơn nữa hội nghị được COPED tài trợ hoàn toàn về kinh phí. Mọi người có đề nghị tổ chức một hội nghị tương tự, nhưng ở VN, trong năm sau. (Về chi phí tổ chức, làm ở VN chắc là rẻ hơn ở Pháp: riêng tiền khách sạn ở Pháp là hơn 200USD/ngày/người).

Hầu hết các tham luận của hội nghị có ở dạng văn bản điện tử và công khai. (Ai muốn xem có thể hỏi xin)

Print Friendly

8 comments to Hội nghị COPED hợp tác Pháp-Việt, Paris 17-19/06/2010

  • Mèo MonsterID Icon Mèo

    Anh Dũng có tham luận hội nghị này bản điện tử không ạ? Nếu có em xin đọc với, merci anh trước rất nhiều!

  • admin MonsterID Icon admin

    Hi Me`o

    Minh co luu lai van ban dien tu cua cac bai tham luan cua hoi nghi, se cho len
    http://zung.zetamu.com/COPED-VN2010/
    cho moi nguoi tham khao.

    Ve nguyen tac thi COPED co trach nhiem cho cac van ban dien tu do len trang web cua ho.
    Nhung van de la COPED thieu nguoi dam nhiem cac viec nhu vay (cac ba thu ky khong
    biet lam). Ban than trong phong hop cua Vien Han Lam cho cuoc hop vua roi
    cung khong co wifi ! (

  • Hoang MonsterID Icon Hoang

    Không thấy anh ơi.

    Not Found

    The requested URL /COPED-VN2010/ was not found on this server.

  • admin MonsterID Icon admin

    Tôi đã upload lên một số bài theo địa chỉ

    http://zung.zetamu.com/COPED-VN2010/

  • T.Sơn MonsterID Icon T.Sơn

    Em xin hỏi thầy về ý: có 2 người được phong GS về thống kê. Vì em học tại ĐHKHTN TP HCM và thấy có GS Nguyễn Văn Thu (ĐH Quốc Tế) từ Viện toán chuyển vào cũng làm TK – em thấy thầy Thu nhận hướng dẫn cho Học viên CH ngành TK. Nghĩ cũng tủi cho ngành TK, trong khoa Toán, ai chọn TK thì bị cho là học kém, muốn dễ ra trường; các môn học thì chủ yếu do PGS Nguyễn Bác Văn dạy – thầy đã già lắm rồi mà vẫn dạy vì hình như chưa có ai thay thế…

  • admin MonsterID Icon admin

    GS Thu theo tôi hiểu được phong GS là về chuyên ngành xác suất.
    Chuyện thầy hướng dẫn về TK thì tôi chưa được biết.

    Hai người được phong GS về chuyên ngành thống kê theo tôi biết là GS Nguyễn Văn Hữu (ĐHQG HN)
    và GS Trần Mạnh Tuấn (Viện Toán), cả hai đều đã về hưu (GS Hữu thì đang làm hiệu trưởng một
    trường ĐH tư sau khi về hưu, GS Tuấn thì tôi không biết).

    Ngành thống kê là ngành quan trọng, và cũng được coi trọng trên thế giới. (Trong các loại sách
    toán chuyên khảo, thì sách về thống kê là bán chạy nhất vì nhiều người cần dùng nhất). Lệch lạc nếu
    coi rằng “dốt thì đi học thống kê”. Có 1 bạn VN đứng đầu lớp cao học ở Toulouse vừa được nhận làm NCS
    ngành thống kê. Hy vọng sẽ có thêm nhiều SV giỏi đi về ngành này.

  • T.Sơn MonsterID Icon T.Sơn

    Em xin cảm ơn thầy!

  • V.Anh MonsterID Icon V.Anh

    Thưa thầy trường bách khoa Hà Nội cũng vừa mới đổi tên tiếng Anh thành Hanoi University of Science and Technology (HUST). Hai trường hệt tên như vậy thì thật dễ gây hiểu nhầm

Leave a Reply

You can use these HTML tags

<a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <s> <strike> <strong>

  

  

  

This blog is kept spam free by WP-SpamFree.